ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT LÊN
MEN CHOLINESTERASE
Ở ĐỘNG VẬT THỦY SẢN
ThS. Lê Thị Tiểu Mi – CLBKH – Chi cục Thủy sản
Ngày nay, các mô
hình trồng lúa kết hợp nuôi thủy sản đã được đầu tư nghiên cứu, khai thác và
phát triển từ lâu ở Đồng bằng sông Cửu Long với năng suất, chất lượng sản phẩm cũng
như hiệu quả của hệ thống canh tác đã được
khẳng định, góp phần cải thiện cuộc sống cho người dân ở vùng nông thôn. Bên cạnh
đó, việc kết hợp nuôi thủy sản trong ruộng có trồng lúa không chỉ có thêm nguồn
cá, làm tăng hiệu quả kinh tế của mô hình từ việc nuôi thủy sản còn làm tăng
năng suất lúa 15%. Phương pháp nuôi kết hợp cá – lúa là phương pháp ít tốn kém
chi phí trong sản xuất lúa, do cá nuôi tạo môi trường thuận lợi cho lúa phát
triển bằng cách hạn chế các sinh vật gây hại và cỏ dại, đồng thời cung cấp chất
dinh dưỡng cần thiết cho ruộng lúa. Tuy nhiên, trong các mô hình nuôi thuỷ sản
kết hợp trên ruộng lúa, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) cho canh tác
lúa là điều khó tránh khỏi. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy quan
điểm nông dân (đã lỗi thời) là càng sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật thì lúa
sẽ đạt năng suất cao. Theo nghiên của Berg (2001), uớc tính có đến 30.000 tấn
thuốc BVTV sử dụng hàng năm trên đồng ruộng
và trung bình hơn 1,8 kg hoạt chất/ha/vụ. Mặc dù thuốc BVTV không tồn tại
trong môi trường trong thời gian dài
nhưng việc sử dụng thuốc BVTV lập lại nhiều lần khi đó các đối tượng thủy sản
phải tiếp xúc thường xuyên với hàm lượng thuốc BVTV dưới ngưỡng gây chết có thể
ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của các đối tượng thủy sản. Đặc tính
chung của thuốc BVTV đầu tiên là gây hại cho sinh vật bằng cách ức chế hoạt tính của men Cholinesterase (ChE)
(Tomlin, 1994).. Ngoài ra, đo được hoạt tính của men ChE cũng là một chỉ tiêu đặc
trưng đánh dấu sinh học chỉ sự ô nhiễm
các loại hóa chất BVTV gốc lân hữu cơ và carbamate.
Men Cholinesterase
(ChE) tập trung nhiều ở các mô thần
kinh, não, huyết tương và hồng cầu của động vật có xương sống. Men ChE bao gồm
cả Aetylcholineseterase (AChE) khi men này bị ức chế cao chúng sẽ làm chết các
loài sinh vật và men Butylcholineseterase
(BChE) khi men này bị ức chế cao vẫn
không có khả năng làm chết sinh vật (Chuiko et al., 2003). Vai trò của men
ChE quan trọng trong việc điều tiết, dẫn
truyền các xung thần kinh ở sy-náp của hệ thống thần kinh. Vì vậy AChE có khả
năng quyết định chức năng của hệ thống thần kinh và dễ dàng bị ảnh hưởng các
thuốc BVTV có gốc lân hữu cơ và carbamate (Chuiko
et al., 2003).
Hai nhóm thuốc BVTV chính là lân hữu cơ
(organophosphates) và carbamates đã ngăn chặn hoạt tính phân giải của
acetycholinesterase (gọi là chất kháng cholinesterase), làm cho acetylcholine
tích luỹ trong khớp thần kinh và gây ra sự “tắc nghẽn” thông tin, cản trở các
thông điệp có thể di chuyển tự do giữa các tế bào thần kinh, với lân hữu cơ là quá trình
Phosphorin hoá, với carbamat là quá trình cabamil hoá men ChE. Acetylcholin không bị
phân hủy sẽ ứ đọng tại các sy- náp và tác động liên tục vào thụ thể làm màng
sau sy-náp luôn ở trạng thái đáp ứng dù không còn xung động thần kinh truyền đến
sy-náp, dựa vào mức độ ức chế men hay nói cách khác là khi men ChE bị ức chế, acetylcholin không bị thuỷ phân sẽ tích
luỹ lại với lượng lớn làm cho dây thần kinh bị tổn thương và đứt đoạn, sự kích
thích thần kinh bị rối loạn và tê liệt. Người ta chia
các yếu tố này ra làm 2 loại: (1) Loại ức
chế tạm thời : Chỉ ức chế thời gian ngắn sau đó giải phóng men hoạt động trở
lại; (2) Loại ức chế vĩnh viễn: Các
chất này gắn chặt vào men ChE thành phức hợp bền vững, ức chế vĩnh viễn men này làm acetylcholin bị ứ đọng nặng và lâu dài rất
nguy hiểm, có thể gây tử vong cho các đối tượng sinh vật.
Vì vậy, thuốc
BVTV là những chất độc đối với cơ thể
sinh vật, phổ biến là các loại thuốc
BVTV gốc lân hữu cơ và carbamate. Các chất kháng cholinesterase ngăn cản hệ thần
kinh hoạt động đúng nhịp. Điều này có thể ảnh hưởng đến thần kinh trên não,
nơi thực hiện chức năng giải phóng và kiểm soát hoạt động của các
hormone đặc biệt quan trọng trong giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng, phát
triển và sinh sản của sinh vật. Trong thâm canh hóa cây trồng nhất là phương thức
độc canh, việc sử dụng thuốc BVTV là cần thiết nhưng nếu lạm dụng sẽ để lại hậu
quả rất nặng nề cho môi trường và cộng đồng xã hội..Vì thế, đa dạng hóa cây trồng,
vật nuôi với các phương thức sản xuất xen và luân canh trên cùng diện tích đất
sẽ là giải pháp kỹ thuật tối ưu để gảm nhu cầu sử dụng thuốc và hóa chất trong
sản xuất nông nghiệp.
Với chủ trương chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, nông thôn, nâng cao hiệu quả
sản xuất, nhiều địa phương trong tỉnh đã xây dựng các mô hình nuôi thủy sản kết
hợp với lúa thì vấn đề đặt ra là cần chú ý các khâu kỹ thuật từ việc thiết kế
ruộng nuôi đến các quá trình chăm sóc quản lý, ứng dụng triệt để quy trình sản
xuất IPM để hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc BVTV trong các hệ thống kết hợp
lúa-thủy sản để các đối tượng nuôi sinh trưởng bình thường và phát triển tối đa
nhằm tăng năng suất trên một đơn vị diện tích canh tác, thân thiện với môi trường
đảm bảo phát triển bền vững.
Nguồn tài liệu tham khảo:
Berg,
H. 2001. Pesticide use in rice and
rice -
fish farm in the Mekong Dalte. Vietnam. CropProtection 20.
Chuiko GM, Podgornaya VA, Zhelnin YY. 2003. Cholinesterase and butyrylcholinesterase
activities in brain and plasma of freshwater teleosts cross-species and
cross-family differences. Comp
Biochem Physiol 135B.
Tomlin, C., 1994. The pesticide manual. Crop Protection Publication.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét