Hiển thị các bài đăng có nhãn Thông tin KH - KT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thông tin KH - KT. Hiển thị tất cả bài đăng

30/5/18

ỨNG DỤNG HỆ THỐNG GIÁM SÁT VÀ CẢNH BÁO TỰ ĐỘNG  CHẤT LƯỢNG NƯỚC TRONG AO NUÔI THỦY SẢN
Tiểu Mi – Chi cục Thủy sản

Trong những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường nước đã ảnh hưởng nghiêm trọng đối với nghề nuôi trồng thủy sản do các hoạt động xả thải từ các nhà máy, hoạt động sản xuất nông nghiệp hay thậm chí là ngay từ chính hoạt động nuôi trồng thủy sản làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm trong nuôi trồng thủy sản. Một vấn đề lớn đặt ra là làm sao theo dõi được tình trạng chất lượng nước của các ao nuôi thủy sản 24/24 và kịp thời cảnh báo cho nhà quản lý, người nuôi trồng thủy sản để có biện pháp ứng phó kịp thời. Và để giảm thiểu những thiệt hại do ô nhiễm môi trường nước gây ra thì việc ứng dụng hệ thống giám sát và cảnh báo tự động chất lượng nước trong ao nuôi thủy sản là điều hết sức cần thiết.
Ngày nay, chúng ta đang ở giai đoạn đầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ truyền thông và internet, công nghệ IoT (Internet of Things) thực sự tạo ra một cuộc cách mạng trong lĩnh vực điều khiển, là công cụ hỗ trợ đắt lực cho con người trong quá trình sản xuất. Trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, công nghệ 4.0 đã được nghiên cứu và thúc đẩy áp dụng mạnh mẽ trong những năm gần đây và tạo ra những giá trị rõ rệt trên các lĩnh vực như trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản với những kết quả có giá trị vượt trội trong sản xuất như: (i) Giải phóng sức lao động; (ii) Giảm thiểu rủi ro trong sản xuất; (iii) Tiết kiệm chi phí sản xuất; (iv) Truy xuất được nguồn gốc sản phẩm; (v) Cảm biến nhanh để thích ứng với những thay đổi của thời tiết, môi trường,..
Trong nuôi trồng thủy sản, giải pháp ứng dụng công nghệ tự động vào công tác quan trắc môi trường ở các ao nuôi thủy sản là rất quan trọng và cần thiết. Bởi, đây là giải pháp giúp các cơ sở nuôi có thể phòng bệnh cho các đối tượng nuôi, tăng năng suất và tránh ô nhiễm môi trường trong ao nuôi. Việc giám sát và cảnh báo các thông số môi trường quan trọng có ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình nuôi được giải quyết nhờ vào việc xây dựng hệ thống điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu áp dụng các hệ thống tự động và kết hợp với công nghệ IoT. 
Trong hệ thống giám sát môi trường, bộ điều khiển trung tâm nắm vai trò quan trọng, là thiết bị đầu não nhận dữ liệu và xuất tín hiệu điều khiển, ngoài ra còn là cầu nối liên lạc giữa các thiết bị với nhau, tạo nên mối liên kết trong hệ thống. Hệ thống tự động hoá điều khiển, giám sát các thông số môi trường được trang bị các thiết bị đo và cảm biến để thu nhập các thông số đang cần theo dõi. Các thông số môi trường sẽ được cập nhật liên tục và hiển thị trên màn hình giao điện của hệ thống. Ngoài ra, các thông số về môi trường nước trong ao nuôi được hệ thống xử lý trung tâm ghi nhận và được lưu trữ trên cơ sở dữ liệu đám mây. Từ kho dữ liệu này các thông tin sẽ được tổng hợp, chuẩn hóa và là thông số quan trọng phục vụ quá trình chăm sóc đối tượng nuôi ngày càng tốt hơn.
Bên cạnh đó, phần mềm quản lý hệ thống giám sát môi trường nước trong ao nuôi, hỗ trợ người nuôi theo dõi các thông số môi trường nước, là giao diện giao tiếp giữa con người và hệ thống giám sát ao nuôi với các chức năng: (1) Chức năng hiển thị: Các thông số môi trường sẽ được cập nhật liên tục qua màn hình hiển thị theo dạng số hóa hoặc đồ thị theo thời gian; Chức năng thống kê và báo cáo: thông qua các số liệu lưu trữ, hệ thống sẽ thực hiện chức năng thống kê, phân tích dữ liệu tổng hợp qua đó các cơ sở dể dàng theo dõi và kiểm tra tình hình chất lượng nước của ao nuôi trong tuần hoặc trong tháng; (3) Chức năng thông báo: đối với các thông số môi trường vượt ngưỡng, việc thông báo kịp thời rất cấp thiết. Hệ thống sẽ tự động thông báo thông qua điện thoại hoặc chuông báo động để đưa ra các phương án ứng phó hợp lý.
Hệ thống hoạt động ổn định 24/24 giờ giám sát liên tục các chỉ tiêu môi trường nước, đảm bảo các chỉ tiêu nằm trong giới hạn tốt nhất cho các đối tượng thủy sản phát triển nhằm giảm thiểu tối đa cũng như hạn chế tới mức thấp nhất nguy cơ các thông số môi trường thay đổi đột ngột gây ảnh hưởng xấu đến vật nuôi. Trong trường hợp các thông số môi trường vượt ngưỡng cho phép, hệ thống này có khả năng tự động thông báo cho cán bộ kỹ thuật và người quản lý các cơ sở nuôi để có những ứng phó, xử lý kịp thời.
Thiết nghĩ, việc ứng dụng hệ thống giám sát và cảnh báo tự động chất lượng nước trong ao nuôi thủy sản là một bước tiến mới trong việc sử dung công nghệ IoT để thay thế con người trong việc thu thập dữ liệu về các yếu tố môi trường trong ao nuôi, giám sát và cảnh báo các thông số môi trường biến động có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của tôm cá, giảm thiểu rủi ro và mang lại hiệu quả kinh tế cho người nuôi, góp phần giúp nghề nuôi phát triển theo hướng ổn định và bền vững. Do đó, hệ thống hệ thống và cảnh báo tự động chất lượng nước trong ao nuôi thủy sản cần được ứng dụng và phát triển rộng, đặc biệt là sự quan tâm, hỗ trợ đầu tư đúng mức của nhà nước./.

19/11/17

HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT NUÔI CÁ LĂNG NHA THƯƠNG PHẨM TRONG LỒNG/BÈ
TS. Phạm Thị Thu Hồng – Hiệp hội Thủy sản Vĩnh Long

Với chủ trương đa dạng hóa các đối tượng nuôi thủy sản trên lồng bè để gia tăng hiệu quả sản xuất thì cá lăng nha (Mystus wyckiioides) là đối tượng nên lựa chọn bởi đây là loài cá nước ngọt, có chất lượng thịt thơm ngon, thịt trắng chắc, không xương dăm, có giá trị thương phẩm cao được nhiều người tiêu dùng trong nước ưa chuộng. Trước đây, loại cá này chủ yếu được đánh bắt, khai thác từ tự nhiên nhưng những năm qua, với phương thức khai thác mang tính hủy diệt đã làm suy giảm đáng kể lượng cá lăng nha tại các sông suối. Để phát triển loài cá quý này, thời gian qua, Khoa Thủy sản, Đại học Nông Lâm TP. HCM đã nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo thành công các giống cá lăng quý hiếm và sản xuất hàng loạt cá giống cung cấp cho người dân. Công nghệ này cũng được chuyển giao cho nhiều địa phương sản xuất cá giống thành công, để nuôi thành cá lăng thương phẩm hiệu quả cao.
Phổ biến là cá lăng nha đuôi đỏ, được nuôi theo hai hình thức thâm canh trong ao đất hoặc nuôi trong lồng/bè. Hiện nay ở Vĩnh Long được nuôi chủ yếu trong lồng bè, những thông tin và biện pháp kỹ thuật sau đây sẽ giúp người nuôi nâng cao hiệu quả sản xuất:

1. Một số đặc điểm sinh học
Cá lăng nha sinh sống chủ yếu ở các con sông và nhánh sông lớn thuộc lưu vực sông Mê Kông. Cá thích sống ở tầng đáy, có khả năng sống và phát triển tốt trong các thủy vực nước ngọt và nước lợ có nồng độ muối thấp của vùng Đông Nam bộ và ĐBSCL với ngưỡng giới hạn các yếu tố thủy lý hóa như sau: nhiệt độ từ 24 – 340C (tốt nhất 28 – 320C); độ pH từ 6 – 8 (tốt nhất 6,5 – 7,5), hàm lượng Oxy hòa tan (DO) ≥ 3mg/l; độ mặn từ 0 – 7%0; hàm lượng NH3 < 0,01mg/l.
Tuy là loài cá dữ có tập tính ăn động vật, thức ăn của cá chủ yếu là các loài cá con, tôm, tép, cua, nhuyễn thể, ấu trùng côn trùng, giáp xác và mùn bã hữu cơ nhưng trong điều kiện nuôi thương phẩm, cá hoàn toàn có khả năng ăn thức ăn dạng viên nổi có hàm lượng đạm cao và cá phát triển theo sự gia tăng về hàm lượng protein trong thức ăn,. Thường nuôi lồng/bè cá sẽ nhanh lớn hơn, năm đầu tiên cá đạt trọng lượng 1- 1,3 kg/con, đặc biệt cá lớn nhanh vào năm thứ hai đạt 2,5 - 3kg/con, tùy nhu cầu tiêu thụ của thị trường để quyết định thời gian nuôi.
2. Chuẩn bị điều kiện lồng/ bè nuôi: Tuỳ theo khả năng kinh tế của mỗi người mà có thể làm lồng có kích thước to hoặc nhỏ khác nhau, nên có thể tích từ 10m3 trở lên, đặt ở nơi có dòng chảy vừa phải, không quá mạnh, ít sóng gió, thuận lợi trong việc vận chuyển cá, thức ăn, đảm bảo mực nước trong bè luôn từ 2m trở lên, tuyệt đối tránh xa nguồn nước thải sinh hoạt và các nhà nhà máy công nghiệp, tốt nhất là sản xuất nơi đã được qui hoạch nuôi lồng/bè của tỉnh để hạn chế rủi ro từ khách quan.
Lồng/bè cần có mái che để che mát cho cá. Dùng bó tre hoặc thùng phuy làm phao để giảm độ chao lắc của bè, phía dưới của bè cần đổ một lớp đất sét mềm khoảng 10-15 cm để cho cá chui rúc khi động, đất sét được khử trùng bằng vôi và muối, liều lượng là 10kg đất trộn với 100-150gr muối và 50-100gr vôi bột.
Việc chuẩn bị lồng/ bè có ý nghĩa quyết định đến kết quả nuôi. Do hiệu quả điều trị động vật thủy sản nuôi thường không cao nên phòng bệnh trước khi thả nuôi là biện pháp kỹ thuật tối ưu nhất. Nếu dọn tẩy lồng/ bè tốt thì mầm bệnh khó có cơ hội phát triển.. Dùng BKC hoặc hóa chất sát khuẩn phun vào bè để diệt mầm bệnh đồng thời kiểm tra, gia cố dây neo, chằng chống lồng/bè thật kỹ trước khi thả cá. 
3.Thả cá giống: phải chọn giống cá được sinh sản nhân tạo nơi cơ sở có uy tín và chứng nhận kiểm dịch với tiêu chuẩn: cá không mất nhớt, đuôi và râu không bạc màu; cỡ đồng đều, cá bơi lội khỏe, cỡ cá thả khoảng 5-7cm, trọng lượng 30 con/kg. Mật độ nuôi: 60-70 con/m3.Thời gian thả tốt nhất vào buổi sáng (6 - 9giờ) hoặc chiếu mát ( 17- 18h).
Phòng bệnh cho cá bằng cách sát trùng (tắm cá) trước khi thả xuống lồng/bè bằng muối ăn (1 muỗng canh pha trong 1 lít nước) hoặc BKC… theo liều hướng dẫn của nhà sản xuất.
4. Quản lý và chăm sóc
Cho ăn: có thể cho cá ăn bằng một trong các loại sau: cá tạp, cắt khúc vừa cỡ miệng (lúc lớn) Thức ăn tự chế 50% cám + 50% cá tạp xay nhỏ, ép thành viên cho cá ăn. Thức ăn viên độ đạm ít nhất 35%. Cần làm sàn ăn cho cá, cách làm này sẽ quản lý được lượng thức ăn và nắm được sức tăng trọng của cá. Liều lượng thức ăn cho ăn hằng ngày bằng 5-7% trọng lượng cơ thể cá với tần suất 3 lần/ngày (sáng, chiều và tối). Do cá có tập tính chui rúc và thích sống nơi ít ánh sáng nên cho ăn cữ tối chiếm 40-50% tổng lượng thức ăn trong ngày. Trong quá trình cho ăn cần quan sát lượng mồi thừa thiếu trong sàn mà điều chỉnh tăng hay giảm lượng thức ăn cho mỗi ngày. Cần đưa ra khỏi bè cá thức ăn còn dư để tránh ô nhiễm môi trường nuôi cá. Trong giai đoạn chuyển mùa, khoảng tháng 10, 11 nên bổ sung thêm các hoạt chất và chế phẩm vi sinh vào thức ăn để giúp cá tăng sức đề kháng, tiêu hoá tốt, lớn nhanh hơn như Vitamin C (liều lượng 5mg/100 kg cá); thường xuyên dùng Premix khoáng, men tiêu hoá (1g/kg thức ăn); các sản phẩm chứa axít amin, sorbitol (Hepatofish 2,5g/kg thức ăn); khoáng vi lượng (liều lượng 1 - 2g/kg thức ăn).
Quản lý: Thường xuyên theo dõi hoạt động bắt mồi của cá, nhất là vào lúc nước đứng, nước đổ để xử lý kịp thời, Thường xuyên kiểm tra, gia cố bè thật chắc trước và sau khi thả cá đồng thời định kỳ vệ sinh cây cỏ thủy sinh bám lồng bè đảm bảo lưu thông nước trong và ngoài lồng.
4. Phòng và trị bệnh: Dùng BKC hoặc các hóa chất sát khuẩn khác theo hướng dẫn của nhà sản xuất phun vào bè để diệt mầm bệnh. Trước khi thả cá cần tắm cho cá bằng dung dịch muối ăn 2-3%o. Định kỳ treo các túi vôi ở đầu bè, khoảng 15-20 ngày phun khử trùng bè một lần bằng BKC (phun trực tiếp xuống bè).
Các bệnh thường gặp trên cá lăng nuôi là (1) Bệnh nấm thủy mi: Cá bị bệnh bơi lội không bình thường do cơ thể bị ngứa nên cá cọ sát vào các vật thể trong nước làm xây xát lại càng tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm có cơ hội phát triển khiến bệnh nặng hơn. Bệnh này, cần sử dụng hóa chất khử trùng nước, kết hợp với trộn kháng sinh vào thức ăn cho cá ăn để điều trị bệnh; (2) Bệnh xuất huyết: tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Aeromonas hydrophila với dấu hiệu bệnh lý là cá hoạt động kém linh hoạt, xuất hiện vết loét và bị xuất huyết khắp cơ thể, sử dụng kháng sinh Doxycyline theo hướng dẫn của nhà sản xuất để điều trị bệnh xuất huyết trên cá lăng sẽ cho hiệu quả cao; (3) Bệnh viêm ruột: Cá bị bệnh viêm ruột bụng trương to, có ban đỏ, hậu môn lồi và sưng đỏ. Khi bệnh nặng, vây cá bị tổn thương, xoang bụng tích nước, thành ruột bị tụ máu. Toàn bộ ruột có màu đỏ thâm, ruột không có thức ăn, xuất hiện dịch mủ màu vàng nhạt. Để phòng trị bệnh này, cần đảm bảo thức ăn tươi, không bị ôi thiu, thường xuyên vệ sinh sàng ăn và thức ăn thừa sạch sẽ. Định kỳ dùng men tiêu hóa, khi cá bị bệnh dùng vôi bột hoặc hóa chất xử lý nước trong lồng/bè.
Cá lăng nha là nguyên liệu chế biến món chả cá Lã Vọng ở Hà Nội - “tuyệt phẩm” tiến vua xưa kia đến nay vẫn nổi tiếng là đặc sản ẩm thực thủ đô và nhiều món ăn hấp dẫn khác trong thực đơn các nhà hàng, tiệm ăn đáp ứng nhu cầu thị hiếu thực khách khắp mọi miền cả nước. Hiện nay cá lăng nha thương phẩm có giá từ 120.000-150.000 đ/kg nếu làm tốt hoạt động thông tin, quảng bá và tổ chức phát triển nuôi theo chuỗi liên kết sản xuất thì đây sẽ là đối tượng đóng góp không nhỏ vào giá trị sản xuất của ngành thủy sản nói riêng và nông nghiệp nói chung./.
Hình: cá lăng nha

15/8/17

KỸ THUẬT NUÔI THƯƠNG PHẨM CÁ HÔ TRONG AO ĐẤT
ThS. Huỳnh Trấn Quốc - Chi cục Thủy sản
            Cá hô (Catlocarpio siamensis) thuộc họ cá chép Cyprinidae có phân bố chủ yếu ở khu vực hạ lưu sông Mê Kông. Đây là một trong các loài cá nước ngọt có kích thước rất lớn, ngư dân thường bắt được những cá thể có trọng lượng từ 80 - 150 kg. Thịt cá ngon và có giá trị thương phẩm cao nên bị khai thác quá mức, không kiểm soát được do đó trong tự nhiên các cá thể cỡ lớn ngày càng ít gặp và đây là loài được xếp vào nhóm có nguy cơ bị tuyệt chủng. Trước đây, cá hô chủ yếu được nuôi ghép trong ao với một số loài cá khác như: cá tra, mè vinh, cá chép, rô phi… Nguồn giống chủ yếu được đánh bắt từ tự nhiên nên số lượng giống còn rất ít, tỷ lệ thả ghép thấp nên cá tăng trưởng rất nhanh, một năm có thể đạt từ 2 - 3 kg/con. Hiện nay, việc cho sinh sản nhân tạo cá hô đã được nghiên cứu và ứng dụng thành công. Sản lượng cá hô giống hàng năm đáp ứng được nhu cầu con giống để nuôi thương phẩm, góp phần làm phong phú cơ cấu giống loài, tăng thêm nguồn thực phẩm thủy sản quý đáp ứng nhu cầu cho xã hội. Cá hô là một trong những loài thủy sản nước ngọt mới có tiềm năng phát triển và có thể nuôi trong các loại hình mặt nước như ao, bè, đăng quầng, hồ chứa… tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là mô hình nuôi trong ao đất.
1. Thiết kế ao nuôi: Ao nuôi nên có dạng hình chữ nhật để dễ thay nước, chăm sóc và quản lý. Có thể tận dụng các ao nuôi sẵn có để nuôi cá hô nhưng diện tích ao tối thiểu nên từ 1.000 m2 trở lên do những năm về sau cá phát triển rất nhanh và cần không gian rộng để tăng trưởng. Độ sâu mực nước của ao từ 2,5 - 3,0 m và đáy ao phẳng, có độ nghiêng dần về nơi tháo nước. Ao phải có cống cấp thoát nước và được chắn lưới chắc chắn để cá không thoát ra ngoài và địch hại không lọt vào ao. Bờ ao phải chắc chắn, không rò rỉ và cao hơn mực nước lũ cao nhất từ 0,5 m trở lên.     
2. Chuẩn bị ao nuôi: Ao nuôi phải được bơm tát cạn, vét bùn và tu sửa bờ ao, lấp các hang mọi; đối với ao cá tra cải tạo có lớp bùn rất dày, cần phải hút bớt chỉ chừa lại lớp bùn khoảng 20 cm. Bón vôi đáy ao với liều lượng từ 7 - 10 kg/100 m2 đối với ao nuôi lâu năm và từ 10 - 15 kg/100 m2 đối với ao mới đào, sau đó phơi ao trong 2 - 3 ngày. Trước khi thả giống 3 - 5 ngày thì tiến hành lấy nước vào ao nuôi. Khi lấy vào ao cần sử dụng vải mịn hoặc lưới mùng quấn nhiều lớp để hạn chế trứng của các loài cá tạp vào ao sẽ gây hao tốn thức ăn. Có thể bón phân gây màu nước trước khi thả cá: sử dụng phân chuồng ủ hoai với liều lượng 20 - 30 kg/100 m2 hoặc phân DAP + Ure với liều lượng 1 kg/1.000 m2 (tỷ lệ 1:1) để hạn chế tảo đáy phát triển và ổn định môi trường nước nuôi.
3. Thả giống: (1)  Lựa chọn con giống: Cá hô giống thả nuôi là con giống sinh sản nhân tạo và có kích cỡ đồng đều, trọng lượng từ 5 - 10 gram/con, nếu cỡ cá giống càng lớn thì tỷ lệ sống càng cao.Cá giống khoẻ mạnh không có dấu hiệu bị nhiễm bệnh, bơi lội theo đàn, phản xạ nhanh với tiếng động. Khi vớt lên, cá quẫy lộn lung tung, toàn thân trơn bóng, không rách vây, không tróc vảy, không khô mình, không mất nhớt; (2) Mật độ thả giống: Tùy theo kích cỡ con giống, hình thức nuôi và thời điểm thu hoạch mà quyết định thả nuôi với các mật độ khác nhau. Thông thường, đối với hình thức nuôi đơn thì mật độ thả nuôi thích hợp là 1 - 2 con/m2 (cá giống cỡ 5 - 10 gram/con) cho năm đầu tiên và san thưa dần 0,2 - 0,5 con/m2. Lưu ý, nếu muốn nuôi cá lớn (> 10 kg) thì cần phải san thưa mật độ hơn nữa để cá có đủ không gian sinh trưởng. Do thời gian nuôi cá rất lâu (từ 2 - 4 năm trở lên) để thành cá thương phẩm có giá trị kinh tế cao, nên phải điều chỉnh dần mật độ theo thời gian và theo kích cỡ của cá; (3) Thả giống: Nên thả giống lúc sáng sớm hay chiều mát để tránh gây sốc cho cá. Trước khi thả cần ngâm bao chứa cá giống trong nước ao nuôi từ 20 - 30 phút để cân bằng nhiệt độ bên trong bao và bên ngoài môi trường nước. Khi nhiệt độ bên trong và bên ngoài bao cá tương đối cân bằng thì mở miệng bao cho nước bên ngoài vào trong bao, sau đó hạ từ từ cho cá bơi ra ngoài.
4. Thức ăn và cách cho ăn: (1) Thức ăn: Có thể sử dụng thức ăn viên công nghiệp để nuôi cá hô thương phẩm. Giai đoạn cá còn nhỏ (3 tháng đầu) thì sử dụng thức ăn đạm cao (30 - 35%) và giảm dần hàm lượng đạm (26 - 30%) khi cá lớn hơn. Sử dụng thức ăn viên thì rất thuận lợi, hệ số thức ăn thấp, ít ảnh hưởng đến chất lượng nước trong ao nuôi, dễ chủ động đặc biệt rất thích hợp cho giai đoạn cá còn nhỏ. Tuy nhiên, cá hô là loài ăn tạp thiên về thực vật; do đó, bên cạnh việc sử dụng thức ăn viên công nghiệp thì có thể bổ sung thêm thức ăn có nguồn gốc thực vật để giúp cá tăng trọng nhanh hơn. Thức ăn bổ sung bao gồm rong bèo, rau muống, đọt rau lang, lục bình, tấm cám, các phụ phế phẩm hàng ngày… Trước khi cho ăn phải rửa sạch các loại thức ăn xanh này, đảm bảo rau không bị nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và băm nhỏ cho vừa cỡ miệng cá; (2)  Cách cho ăn: Tùy theo giai đoạn phát triển của cá nuôi mà lượng thức ăn thay đổi. Từ khi thả nuôi đến tháng thứ 3, lượng thức ăn viên công nghiệp sử dụng hàng ngày là 8 - 10% trọng lượng thân. Giai đoạn đầu, khi cá cỡ nhỏ chưa quen với tập tính ăn thức ăn nổi, cho nên phải sử dụng thức ăn chìm cho cá ăn (thức ăn mảnh, mè, miếng hay thức ăn tôm) và sau đó tập cho cá ăn thức ăn viên nổi dần dần. Bắt đầu từ tháng 4 - 6, lượng thức ăn viên công nghiệp sử dụng hàng ngày khoảng 5% trọng lượng thân, cá càng lớn thì tỷ lệ cho ăn càng giảm (dao động từ 3 - 5% trọng lượng thân). Quan sát khả năng bắt mồi của cá để có thể điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Cần lưu ý, cá hô thường lên mặt nước bắt mồi vào buổi tối, do đó nên cho cá ăn thức ăn viên công nghiệp vào buổi chiều tối, ban ngày thì bổ sung các loại thức ăn nguồn gốc thực vật để tăng hiệu quả sử dụng thức ăn.
5. Phòng trị bệnh: Cá hô rất ít gặp dịch bệnh nếu chăm sóc theo đúng quy trình kỹ thuật và thực hiện các biện pháp phòng bệnh như sau:
            - Kiểm tra nền đáy ao bắt đầu từ tháng thứ 3 do cá hô sống chủ yếu ở tầng đáy, ít nổi lên mặt nước. Định kỳ sử dụng các chế phẩm sinh học xử lý, cải tạo môi trường để xử lý đáy ao tránh ô nhiễm đáy ao do chất thải của cá hay thức ăn thừa tích tụ.
            - Tránh gây sốc cho cá: nếu chênh lệch nhiệt độ không khí giữa ngày và đêm lớn sẽ làm nhiệt độ nước cũng biến động theo làm cho cá dễ bị stress, tạo điều kiện cho mầm bệnh tấn công cá nuôi. Cần phải đảm bảo giữ mực nước trong ao nuôi tối thiểu là 2 m để nhiệt độ luôn ổn định.
            - Tăng cường khả năng đề kháng: định kỳ 2 - 3 ngày/lần trộn Vitamin C, premix khoáng vào thức ăn cho cá hay sử dụng những cây thuốc nam sẵn có tại chỗ để phòng bệnh cho cá như: củ tỏi, lá giác, lá xoan, cỏ mực...
            - Quản lý tốt chất lượng nước ao: theo dõi và điều chỉnh các các thông số kỹ thuật luôn trong khoảng thích hợp (pH từ 7 - 8,5, màu  nước ao nuôi cá có màu xanh vỏ đậu hoặc xanh lá chuối non, oxy hòa tan > 2 mg/l, nhiệt độ nước từ 28 - 30oC). Định kỳ thay nước ao nuôi 2 lần/tháng, mỗi lần thay từ 20 - 30% lượng nước trong ao.
            - Khi cá có hiện tượng khác thường, nhanh chóng xác định nguyên nhân để xử lý, tạm thời giảm, hoặc ngưng cho ăn nếu trường hợp cá bị bệnh nặng         
            - Nếu phát hiện cá bệnh thì có thể sử dụng thuốc trị bệnh dành cho cá có vẩy thông thường được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản.
6. Thu hoạch: Cá hô lớn nhanh từ năm nuôi thứ hai, sau mỗi năm cá có thể tăng trọng 2 - 3 kg. Tùy theo điều kiện nông hộ mà quyết định thời điểm thu hoạch vì nuôi đến khi cá đạt trên 10 kg thì càng được giá hơn. Khi thu hoạch cần lưu ý cá hô rất nhạy cảm, khi có động trong ao cá thường chúi xuống bùn, bụi cỏ nên bị ngộp chết. Do đó, lúc kéo lưới phải thực hiện nhanh gọn, nhẹ nhàng và đưa cá sang ao khác để rộng lại khi không bán hết.

25/4/17

KỸ THUẬT NUÔI CÁ CHẠCH LẤU THƯƠNG PHẨM

ThS. Lê Thị Tiểu Mi – CCTS

Cá chạch lấu là đối tượng thủy đặc sản có giá trị kinh tế cao bởi chất lượng thịt cá ngon, có mùi vị thơm đặc trưng, hàm lượng dinh dưỡng cao, được người tiêu dùng ưa thích với ưu điểm là có thể chế biến thành nhiều món ăn thích hợp thị hiếu nhiều đối tượng khác nhau. Vì vậy, nhu cầu sử dụng cá chạch lấu thương phẩm ngày càng tăng cao trong khi nguồn cá tự nhiên ngày càng giảm sút đã thúc đẩy nghề nuôi cá chạch lấu phát triển thời gian gần đây. Để mang lại hiệu quả kinh tế cho người nuôi thì việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật nuôi là rất cần thiết.
1. Một số đặc điểm sinh học cá chạch lấu
- Môi trường sống: cá chạch lấu là loài sống tầng đáy, ngoài tự nhiên thích chui rúc nên trong môi trường nuôi dưỡng nên chuẩn bị nền đáy cát và tạo ra những nơi cư trú như hang, hốc, khe, rãnh hay ít nhất là khúc gỗ có đục lỗ để chúng có nơi ẩn nấp. Đây là loài sống chủ yếu trong nước ngọt nhưng vẫn phát triển được trong môi trường nước lợ với nồng độ muối thấp chúng có thể sống và phát triển tốt trong điều kiện pH từ 6 – 8 và phát triển tốt nhất khi pH = 7; nhiệt độ từ 23 –270C (tốt nhất là 260C), nồng độ Oxy thích hợp >3mg/L.
- Tính ăn: là loài ăn động vật điển hình, ăn tạp, thích bắt mồi về đêm, trong tự nhiên chúng ăn các loại côn trùng sống đáy, các loài giun, ấu trùng giáp xác và cả mùn bã hữu cơ.
- Sinh trưởng: Cá chạch lấu nuôi thương phẩm trong ao thì tăng trưởng chậm hơn so với nuôi trong lồng/bè, sau thời gian nuôi 10 đến 12 tháng cá có thể đạt 500 – 800 gram/con.
2. Thiết kế và chuẩn bị vèo/ao nuôi
- Lựa chọn địa điểm nuôi: Địa điểm nuôi phải đảm bảo những tiêu chí sao: (1) phải chủ động nguồn nước cấp và nước thoát; (2) Nguồn nước tốt cho sự phát triển của cá, không bị ô nhiễm từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt của con người; (3) Địa điểm nuôi đáp ứng có điện, nước sinh hoạt đầy đủ; (4) Đảm bảo an ninh trật tự tốt; (5) Thuận tiện trong việc chăm sóc, quản lý; vận chuyển thức ăn và vận chuyển cá thương phẩm. Tùy điều kiện sản xuất có thể ứng dụng các hình thức nuôi sau:
- Ao nuôi: Diện tích nuôi có thể từ 300 - 500 m2 trở lên, tốt nhất là 1000m2. Độ sâu khoảng 1,5 – 2,0 m. Bờ ao chắc chắn, đảm bảo không bỉ rò rỉ, thẩm lậu. Trước khi nuôi, ao phải được cải tạo bằng các biện pháp như bơm cạn nước, bắt hết cá tạp, lấp hang mọi, nạo vét bùn đáy ao nhưng còn chừa lại lớp bùn dày 10 - 15 cm, phát quang sạch cây cỏ quanh bờ ao, bón vôi 7-10 kg/100m2. Sau khi phơi đáy ao từ 3-5 ngày tiến hành lấy nước vào, nước phải lọc qua lớp lưới nhằm ngăn không cho cá tạp theo nước vào ao. Khi mức nước trong ao đạt 1,2 ­­– 1,3 m, thì khoảng 3 ngày sau có thể tiến hành thả cá nuôi.
- Bể nuôi: có thể sử dụng bể lót bạt hoặc tận dụng các bể xi măng có sẵn lót bạt để nuôi cá. Bể phải đạt độ sâu 0,8-1,0 m. Chọn thời điểm nước lớn cấp nước vào bể đạt độ sâu 0,8-1m, để cho nước lắng trong khoảng 2-3 ngày có thể thả giống. Bổ sung thêm sục khí trong suốt quá trình nuôi và định kỳ tạo dòng chảy cho cá với mục đích cung cấp oxy và kích thích cá tăng trưởng nhanh.
- Vèo nuôi: vèo nuôi có diện tích thích hợp từ 10-30 m2, vèo nuôi có hình chữ nhật là tốt nhất, chiều cao vèo tốt nhất là 1,5m để thuận tiện trong chăm sóc và quản lý. Tùy theo kích cỡ của cá mà chọn lựa mắc lưới cho phù hợp và thiết kế số lượng vèo nuôi cũng như kích cỡ vèo thích hợp. Tuy nhiên, chiều cao của vèo luôn cách mặt nước từ 20 – 30 cm, mực nước trong vèo thích hợp cho cá phát triển tốt là 1,2 – 1,3 m. Nuôi cá chạch lấu trong vèo thì không cần bổ sung giá thể nhằm hạn chế quá trình thiếu oxy của cá. Tuy nhiên, để rút ngắn thời gian nuôi và giảm thiểu rủi ro trong quá trình nuôi thì cần bổ sung sục khí hoặc tạo dòng nước cho cá
Chú ý: Đối với ao nuôi, bể nuôi sau khi vệ sinh cải tạo xong tiến hành đặt giá thể cho cá trú ẩn. Giá thể có thể sử dụng ống tre, chà cây hoăc dùng ống nhựa cắt từng đoạn thả xuống đáy ao.
3. Thả giống
Chọn giống cá thả nuôi phải đều cỡ, khỏe mạnh, không bị xây xát hay có dấu hiệu nhiễm bệnh, cá hoạt động linh hoạt. Nên chọn con giống có chất lượng tốt từ nguồn cá giống sinh sản nhân tạo vì kích cỡ giống đồng đều, con giống đã được thuần dưỡng nên rất phù hợp với nuôi thương phẩm và tốt nhất con giống đã sử dụng được thức ăn công nghiệp.
Mật độ thả nuôi trong ao khoảng 2 – 5 con/m2; mật độ nuôi trên bể lót bạt và nuôi trong vèo là 10 con/m2. Nếu nuôi cá chạch lấu với mật độ cao thì cần hỗ trợ sục khí và tạo dòng chảy cho cá.
4. Chăm sóc quản lý
- Quản lý thức ăn: Thức ăn cá chạch lấu gồm: cá tạp, tép, trùn quế hoặc kết hợp trùn quế với thức ăn công nghiệp (loại dùng cho cá chình 40 – 42% đạm) hoặc có thể sử dụng hoàn hoàn bằng thức ăn công nghiệp (loại dùng cho cá chình) với hàm lượng đạm cao từ 42% đạm trở lên.
Khẩu phần ăn cho cá từ 5 – 7% trọng lượng thân và tùy theo độ tuổi, tình trạng sức khỏe của cá. Ngoài ra, định kỳ trộn thêm vitamin C, khoáng và men tiêu hóa vào khẩu phần ăn để tăng cường sức đề kháng và tăng trưởng cho cá nuôi. Do thời gian tiêu hóa thức ăn của chạch lấu chậm, vì vậy nếu cho cá ăn vào chiều tối thì bổ sung men tiêu hóa vào thức của cá nhằm hỗ trợ cá tiêu hóa thức ăn và tránh hiện tượng cá bị sình bụng.
Cho cá ăn trong sàn ăn đặt ở các vị trí khác nhau để kiểm soát lượng cho ăn và dễ theo dõi hoạt động bắt mồi của cá. Cho cá ăn 2 lần/ngày: sáng lúc 5 – 6 giờ, chiều lúc 17 - 18 giờ. Do cá có tập tính bắt môi buổi chiều mát và ban đêm nên cho cá ăn vào buổi chiều bằng 2/3 lượng thức ăn. Tuy nhiên, cần lưu ý là phải vệ sinh sàn ăn mỗi ngày và định kỳ vệ sinh vèo 5 – 7 ngày/lần nhằm kích thích cá bắt mồi tốt. Vệ sinh vèo là khâu rất quan trọng trong quá trình nuôi, nếu vèo không được vệ sinh sạch sẽ thì dẫn đến cá sẽ không bắt mồi và nguy hiểm nhất là hiện tượng cá bị ngạt do thiếu oxy.
- Quản lý chất lượng nước
Cần duy trì mực nước ổn định, và giữ cho môi trường nước ao nuôi luôn sạch thì cá mới tăng trưởng nhanh. Định kỳ ghi nhận các yếu tố môi trường để kịp thời phát hiện những sự cố bất thường và điều chỉnh cho phù hợp nhằm hạn chế tối đa sự xuất hiện mầm bệnh trong ao nuôi.
Hàng ngày thay nước từ 10 – 30% nước trong ao cần để tạo môi trường luôn trong sạch đảm bảo cho cá sinh trưởng và phát triển tốt. Do cá có đặc tính phân đàn cao theo thời gian nuôi, do đó phải định kỳ tiến hành phân cỡ cá 20 – 30 ngày/lần đảm bảo cho cá tăng trưởng đồng đều. Đặc biệt, ở cá chạch lấu, cá đực tăng trưởng nhanh hơn cá cái, vậy khi giai đoạn cá lớn 100 – 200 gram/con, dựa vào đặc điểm phân biệt đực cái, nếu được có thể tiến hành tách nuôi cá đực và cái cái riêng biệt thì sẽ cá sẽ tăng trưởng nhanh hơn và giảm hệ số chuyển hóa thức ăn đáng kể.
5. Thu hoạch
Với kích cỡ giống 30 – 50 gram/con thì sau thời gian khoảng 5 – 8 tháng nuôi, cá đạt 300 – 500 gram/con thì có thể thu hoạch. Cá có kích thước càng lớn thì giá bán càng cao. Do dó, tùy vào thị trường và tình trạng sức khỏe cá mà quyết định thời gian nuôi, thu tỉa hoặc thu toàn bộ trong ao nuôi.
6. Phòng và trị một số bệnh có thể gặp ở cá chạch lấu
Khi nuôi thương phẩm, cá chạch lấu cũng xảy ra bệnh chủ yếu vào tháng 9 – 11 dương lịch hàng năm. Vào thời điểm này, để phòng bệnh cho cá nuôi định kỳ (3 ngày/lần) trộn men vi sinh và vitamin C vào thức ăn, kết hợp với xử lý môi trường bằng vôi (với liều lượng 2-3kg/100m2 ao). Hạn chế dùng thuốc và hóa chất trong công tác phòng và trị bệnh vì cá rất mẫn cảm với thuốc và bỏ ăn nhiều ngày, tuyệt đối không được sử dụng loại trong danh mục cấm để đảm bảo an toàn thực phẩm. Khi nuôi cá chạch lấu thường gặp một số bệnh đặc trưng như:
- Bệnh đường ruột: Biểu hiện cá là cá bị sình bụng, hoạt động yếu ớt, ăn kém hoặc bỏ ăn. Có thể sử dụng thuốc kháng khuẩn thuộc nhóm Sulfamid trộn vào thức ăn với liều lượng 1 – 2g/kg thức ăn kết hợp với vitamin C, cho cá ăn liên tục 3 - 5 ngày thì cá sẽ khỏi bệnh.
- Bệnh do ngoại ký sinh: Khi bị bệnh màu sắc cá trở nên nhợt nhạt, cá thích tập trung ở nơi có đường nước chảy vào. Bệnh xuất hiện khi mật độ nuôi quá cao, điều kiện vệ sinh kém, mưa kéo dài và thời tiết lạnh. Phòng bệnh bằng cách thả nuôi mật độ vừa phải, tránh để ao bị ô nhiễm. Trị bệnh: sử dụng formol tạt xuống ao với nồng độ 20 – 25 ml/m3.
- Bệnh do nội kí sinh: Giun kí sinh trong ruột cá, hấp thu dinh dưỡng làm cá viêm ruột và chậm lớn. Phòng bệnh bằng cách thả nuôi mật độ vừa phải, thức ăn phải tươi và được rửa sạch, giữ môi trường ao nuôi tốt, định kỳ diệt trùng ao. Sử dụng thuốc tẩy giun trộn vào thức ăn cho cá ăn liên tục 5 – 7 ngày. Cần chú ý, ở cá chạch lấu khi sử dụng thuốc tẩy giun phải sử dụng đúng liều lượng, đúng loại nếu không thì sẽ dẫn đến hiện tượng cá bị vẹo thân, cong đuôi và chậm lớn.
- Bệnh xuất huyết do vi khuẩn: Khi cá bị mắc bệnh này thì hậu môn lồi ra, một số vây cá bị rách xơ xác dần dần bị rụng, bên trong thịt ứ máu và mủ. Cá lội lờ đờ, chậm chạp, ít ăn hoặc bỏ ăn.+ Cách phòng : không nuôi mật độ quá dày, cho cá ăn đầy đủ về số lượng và chất lượng, môi trường ao nuôi luôn giữ ổn định và sạch sẽ. + Cách trị: sử dụng kháng sinh đặc trị cho ăn liên tục từ 5-7 ngày với liều 2g/kg thức ăn, bổ sung vitamin C với liều lượng 3g/kg thức ăn.
- Bệnh lở loét: Khi bệnh cá ít ăn hoặc bỏ ăn, hoạt động lờ đờ, bơi nhô đầu lên mặt nước, da cá nhợt nhạt và xuất hiện các vết loét dần dần lan rộng có thể ăn sâu đến xương. Cơ quan nội tạng hầu như không bị thương tổn. Phòng và trị bệnh: luôn giữ môi trường sạch, định kỳ dùng vôi bột, các hoá chất xử lý đáy ao. Trị bệnh: dùng thuốc tím 5 g/m3 kết hợp với muối ăn 0,3 kg/m3 tạt xuống ao và trộn kháng sinh đặc trị vào thức ăn với liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất đồng thời bổ sung vitamin C với liều lượng 3g/kg thức ăn.
- Bệnh do nấm thuỷ mi: Khi bệnh cá có cảm giác ngứa ngáy, thân cá gầy, đen sẫm. Phòng và trị bệnh bằng cách giữ môi trường nước trong sạch, không để cá bị suy dinh dưỡng, không nuôi mật độ quá dầy hoặc làm cá bị xây xát. Dùng formol tạt xuống ao liều 20-25 ml/m3 nước, hoặc dùng dung dịch muối ăn với nồng độ 1-2% tắm cá trong 1 phút./.

26/3/17

MÔ HÌNH AQUAPONICS – NUÔI TRỒNG HỮU CƠ CẦN NHÂN RỘNG
Trấn Quốc - Chi cục Thủy sản


1. Aquaponics là gì?
Aquaponics là từ kết hợp giữa Aquaculture và Hydroponics - đây là mô hình nuôi thủy sản kết hợp với trồng cây theo hình thức thủy canh. Nguyên lý hoạt động của mô hình Aquaponics dựa trên cơ sở cộng sinh của một hệ gồm 3 nhóm sinh vật chính đó là Cá - Cây - Vi sinh vật. Ở mô hình này thì không tốn nhiều thời gian chăm sóc cho cây trồng (tưới nước, bón phân…); không cần dùng đến phân bón hóa học hay bất cứ một loại hóa chất nào khác và nuôi thủy sản không cần thay nước hoặc thay rất ít nước. Đây là mô hình canh tác nhỏ gọn, phù hợp với mọi điều kiện diện tích: ban công, chân cầu thang, sân vườn, sân thượng, mô hình mini trên bàn làm việc hay thậm chí là nông trại sản xuất rau sạch.
2. Cấu tạo một hệ thống Aquaponics
- Bể nuôi thủy sản (dùng để nuôi các loại cá, tôm, cua, lươn,…): đây là thành phần thiết yếu phải có; bể nuôi cá có thể làm từ nhiều vật liệu khác nhau như: nhựa, composite, gỗ lót bạt, bể xi măng,…
- Phương tiện trồng cây (dùng trồng các loại hoa, rau, củ, quả…): đây là thành phần quan trọng thứ hai sau bể cá; có nhiều hình thức trồng cây: trồng trên khay nhựa, chậu nhựa, khay composite, ống nhựa, máng xi măng,…
- Các bộ lọc: thông thường gồm có lọc cơ học và lọc vi sinh. Lọc cơ học có nhiệm vụ loại bỏ các chất thải rắn ra khỏi hệ thống. Lọc vi sinh là nơi cư trú và phát triển của các vi sinh vật hiếu khí - đóng vai trò phân giải các vật chất hữu cơ gây ngộ độc cho cá (thức ăn thừa, chất thải của cá) thành các chất dinh dưỡng cung cấp cho cây.
- Hệ thống bơm nước và ống dẫn: giúp lưu thông nước trong hệ thống tưới tự động, nước được bơm từ bể cá đến các máng trồng cây thông qua các bộ lọc và hệ thống ống dẫn sau đó trả ngược về bể cá.
- Hệ thống bơm khí và ống dẫn khí: tăng nồng độ oxy hòa tan giúp cá hô hấp và thúc đẩy quá trình chuyển hóa Nitơ.
- Bộ điều khiển: điều khiển các máy bơm nước, bơm khí, máy cho cá ăn tự động…
3. Quy trình vận hành của hệ Aquaponics
Nước từ bể nuôi cá giàu Amoniac (NH3) được dẫn qua hệ thống lọc cơ học; tại đây, các chất thải rắn sẽ bị giữ lại và loại bỏ ra khỏi hệ thống (thông qua một van xả nằm ở đáy bể lọc cơ học). Nước sau khi qua lọc cơ học tiếp tục đi vào bộ lọc vi sinh (nơi chứa rất nhiều vi sinh vật hiếu khí có lợi như là Nitrosomonas và Nitrobacter), các vi sinh vật này sẽ phân giải Amoniac thành Nitrite (NO2) sau đó thành Nitrate (NO3). Nitrate là chất dinh dưỡng cần thiết và dễ hấp thu cho cây trồng. Do đó, nước sau quá trình nitrate hóa sẽ được đưa vào các phương tiện trồng cây, tại đây rễ cây sẽ hấp thụ các chất dinh dưỡng cần thiết để phát triển và góp phần lọc sạch nước. Nước sau khi qua các phương tiện trồng cây sẽ được trả về bể cá và nước mới chỉ bổ sung cho hệ thống để bù lượng nước thất thoát do bay hơi. Quy trình cứ thể lặp lại tạo nên một hệ sản xuất bền vững.
4. Các mô hình Aquaponics
Mô hình Aquaponics được phân loại chủ yếu dựa vào phương pháp (phương tiện) trồng cây. Aquaponics có thể trồng cây theo rất nhiều phương pháp khác nhau: Tưới ngập xả cạn, Máng sâu - bè nổi, Màng dinh dưỡng - ống dòng chảy, Tháp canh, Vườn treo…
5. Các loài thủy sản và cây trồng thích hợp cho Aquaponics
- Các loài thủy sản nước ngọt có thể sử dụng thức ăn viên công nghiệp đều phát triển tốt trong mô hình Aquaponics: cá rô phi/điêu hồng, cá lóc, cá rô đồng, cá tai tượng, cá trê, cá chép, thát lát cườm, lươn…
- Hầu hết loại cây trồng cỡ nhỏ đều có thể được trồng trong hệ Aquaponics: các loại rau ăn lá (xá lách, rau muống, bắp cải, hành lá...); các cây lấy quả (cà chua, cá tím, dưa leo, bầu, mướp, khổ qua...); các loại cây lấy củ (cà rốt, củ cải trắng, củ sắn...); các cây họ đậu (đâu xanh, đậu nành, đậu đũa...); các loài hoa cây cảnh...
Tuy nhiên, khi kết hợp theo mô hình Aquaponics cần lưu ý cân bằng giữa mật độ cá nuôi và mật độ cây trồng để có thể đảm bảo cây trồng có đủ dinh dưỡng để phát triển và cá nuôi có được môi trường nước sạch để sinh trưởng. Ở mô hình này, nếu cây trồng phát triển tốt thì có nghĩa là với mật độ cá đó đủ cung cấp dinh dưỡng cho cây, ngược lại thì cần phải tăng mật độ cá nuôi lên.
6. Kết luận
Aquaponics là một mô hình nuôi thủy sản kết hợp bền vững và thân thiện với môi trường; tạo được sự an tâm và tin dùng đối với người dân đặc biệt trong tình hình nhu cầu về nguồn thực phẩm sạch cao như hiện nay. Đây là hệ thống canh tác ứng dụng công nghệ tiên tiến nên người sản xuất cần có trình độ chuyên môn và hiểu biết nhất định để lắp đặt, vận hành hệ thống cũng như đảm bảo thủy sản nuôi và cây trồng phát triển tốt. Tuy nhiên, khi muốn phát triển mô hình này cũng cần lưu ý chi phí đầu tư hệ thống ban đầu khá lớn trong khi sản lượng thu được trên đơn vị diện tích không cao nếu sản xuất qui mô nhỏ. Mô hình này nếu sản xuất qui mô nhỏ rất phù hợp với các hộ gia đình ở thành thị, diện tích nhỏ, không có nhiều thời gian nhưng mong muốn có một mảng xanh tại gia vừa là nơi thư giãn và là nguồn cung cấp thực phẩm sạch cho gia đình.
Thế nhưng, nêú phát triển mô hình này mà chưa có liên kết tiêu thụ sẽ khó cạnh tranh so với một số sản phẩm được sản xuất từ phương pháp canh tác truyền thống (thổ canh) với chi phí sản xuất thấp hơn nhiều. Vì thế, nếu vì mục đích thương mại, muốn có sản lượng hàng hóa lớn từ phương thức sản xuất này thì mô hình nên được sản xuất với qui mô lớn dạng trang trại hoặc nông trại đầu tư ứng dụng công nghệ cao, được Chứng nhận sản phẩm hữu cơ, sản phẩm chất lượng cao, an toàn vệ sinh thực phẩm, được truy xuất nguồn gốc để minh chứng sự khác biệt với những nông sản khác nhằm tạo ra giá trị gia tăng từ giá bán. Bên cạnh đó, sản phẩm được sản xuất từ mô hình này sẽ được liên kết tiêu thụ rất tốt ở các chuỗi Nhà hàng cao cấp, hệ thống phân phối bán lẻ các siêu thị, Cửa hàng tiện ích….bởi hiện nay, người tiêu dùng sẵn sàng bỏ ra chi phí cao hơn để được sử dụng những sản phẩm sạch, thân thiện với môi trường và có lợi cho sức khỏe chính mình./.
Tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức và kiểm tra các họat động phát tán, nuôi trồng các lòai sinh vật ngọai lai xâm hại
Tiểu Mi – CLBKH – Chi cục Thủy sản

Sinh vật ngoại lai xâm hại là sinh vật ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, gây mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển.
Vậy mà, trong thời gian gần đây, hiện tượng phát tán và nuôi trồng các loài sinh vật ngoại lai xâm hại đã xảy ra tại một số địa phương. Việc phát tán, nuôi trồng các loài sinh vật ngoại lai xâm hại và lòai ngọai lai có nguy cơ xâm hại sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và da dạng sinh học. Danh mục các loài ngoại lai xâm hại đã được Bộ TN&MT và Bộ NN&PTNT ban hành tại Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT ngày 26/9/2013.
Trước những mối nguy đe dọa nghiêm trọng đối với các lòai sinh vật bản địa, gây thiệt hại lớn đối với bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững, ngày 15/2/2017, Bộ TN&MT đã ban hành Công văn số 580/BTNMT-TCMT đề nghị các Bộ, ngành và UBND các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương cần:
- Chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực thi các quy định pháp luật về quản lý các loài ngoại lai xâm hại và loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại trên địa bàn.
- Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của loài ngoại lai xâm hại đối với môi trường và đa dạng sinh học;
- Kêu gọi người dân không thực hiện các hành vi nuôi, trồng, phát tán, phóng sinh loài ngoại lại xâm hại và loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại trái với quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, việc quản lý sinh vật ngọai lai xâm hại còn được quy định trong các văn bản pháp luật như: (1) Luật Đa dạng sinh học năm 2008 (tại Khoản 1, Điều 52) quy định: “Việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm loài ngoại lai đó không có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học và được UBND cấp tỉnh cấp phép; (2) Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT (tại Khoản 2, Điều 43) quy định: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi nuôi, lưu giữ, vận chuyển, trồng, cấy loài ngoại lai xâm hại ngoài phạm vi khu bảo tồn vì mục đích thương mại, trong trường hợp kiểm soát được sự phát triển, lây lan của chúng và chưa gây ra thiệt hại. Đối với các hành vi nuôi, lưu giữ, vận chuyển, trồng, cấy loài ngoại lai xâm hại ngoài phạm vi khu bảo tồn, tùy mức độ thiệt hại thì mức xử phạt sẽ tăng nặng theo quy định tại Khoản 3, Điều 43 của Nghị định; (3) Nghị định số 103/2013/NĐ-CP ngày 12/9/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản (tại điểm b, Khoản 4, Điều 24) quy định: Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi nuôi các loài thủy sản thuộc danh mục cấm nuôi trồng hoặc không có tên trong danh mục được phép sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam theo quy định của pháp luật; (4) Thông tư số 53/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ NN&PTMT cũng về quy định quản lý các loài thủy sinh ngoại lai (tại Khoản 6, Điều 7) quy định: Nghiêm cấm chủ sở hữu tự ý phóng sinh thủy sinh vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại ra môi trường tự nhiên, khu bảo tồn và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi này.
Gần đây nhất, công văn số 64/TCTS-BTPTNL về việc tăng cường quản lý các họat động phóng sinh, thả giống tái tạo các lòai thủy sản đã gửi đến các Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với nội dung như sau: Ngày 04 tháng 01 năm 2017, Tổng cục Thủy sản đã ký Bản ghi nhớ hợp tác với Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam về lĩnh vực thả giống phóng sinh, bảo vệ nguồn lợi thủy sản nhằm mục đích nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của các tăng ni, phật tử và người dân về bảo vệ nguồn lợi thủy sản thông qua hoạt động phóng sinh, góp phần vào việc bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học; ngăn chặn, giảm thiểu sự phát tán những loài thủy sản ngoại lai xâm hại ra môi trường; chủ động cung cấp và vận động tăng ni, phật tử, người dân thả phóng sinh những giống thủy sản hữu ích cho môi trường sinh thái và đời sống xã hội.
Để hoạt động phóng sinh và thả giống tái tạo các loài thủy sản đạt kết quả cao (đặc biệt vào ngày 23 tháng chạp, rằm tháng giêng, rằm tháng bảy và ngày truyền thống ngành Thủy sản - ngày 01/4 dương lịch) cũng như triển khai có hiệu quả các nội dung của Bản ghi nhớ hợp tác, Tổng cục Thủy sản đề nghị Sở Nông nghiệp và triển nông thôn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động phối hợp với Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh triển khai thực hiện một số nội dung sau:
(1) Chủ động phối hợp với Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh xây dựng kế hoạch, nội dung hoạt động và tổ chức thực hiện Bản ghi nhớ hợp tác phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.
(2) Tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh bố trí nguồn kinh phí và huy động nguồn lực từ các tổ chức chính trị, xã hội, hội nghề nghiệp, doanh nghiệp, các phật tử và cộng đồng dân cư để tổ chức hoạt động phóng sinh, tái tạo nguồn lợi thủy sản.
(3) Hướng dẫn các tăng ni, phật tử và cộng đồng dân cư không thả các loài thủy sinh ngoại lai xâm hại và có nguy cơ xâm hại môi trường; ưu tiên lựa chọn phóng sinh, tái tạo thả giống các loài thủy sản bản địa quý, hiếm; địa điểm thả và kỹ thuật lưu giữ các loài thủy sản trước khi thả và cách thức thả phóng sinh, tái tạo nguồn lợi thủy sản đạt hiệu quả cao; thu gom túi nilông, rác thải tại các thủy vực, ven bờ trước và sau khi thả giống phóng sinh nhằm bảo vệ môi trường.
(4) Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật cho cáctăng ni, phật tử và cộng đồng dân cư về bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ môi trường; áp dụng các hình thức tuyên truyền phù họp với thực tiễn, tập quán của tùng địa phương và từng nhóm đối tượng. Vận động người dân không khai thác, đánh bắt các loài thủy sản ngay sau thời điểm thả giống phóng sinh, tái tạo nguồn lợi thủy sản.
(5) Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trong và sau thời điểm thả giống tái tạo, phóng sinh các loài thủy sản; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, đặc biệt với các hành vi sử dụng các biện pháp khai thác thủy sản mang tính hủy diệt, sử dụng các ngư cụ cấm, nghề cấm và khai thác các loài trong danh mục cấm.
Thiết nghĩ, để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý các sinh vật ngọai lai xâm hại thì việc tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức và kiểm tra các họat động phát tán, nuôi trồng các lòai ngọai lai xâm hại là hết sức cần thiết thông qua công tác kiểm tra, kiểm soát và phối hợp chặt chẽ các tổ chức Phật giáo về hoạt động phóng sinh sao cho “Tốt đời, đẹp đạo”, quản lý nuôi với mọi hình thức và chủ động ngăn chặn các con đường lây lan của sinh vật ngọai lai xâm hại; đồng thời các địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng tham gia phát hiện và ngăn chặn sớm sự phát tán của sinh vật ngọai lai xâm hại, nhất là không nuôi trồng và sử dụng sinh vật ngọai lai xâm hại vào các mục đích có thể gây nguy cơ phát tán như nuôi ốc bươu vàng, rùa tai đỏ, tôm hùm đỏ,…/.

26/2/17



BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ KỸ THUẬT PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH THỦY SẢN NUÔI TRONG MÙA KHÔ
PTTH – CLB khoa học thủy sản

Hiện nay đang là giai đoạn cao điểm mùa khô nhưng vẫn có những cơn mưa trái mùa, thời tiết rất thất thường, dẫn đến các yếu tố thủy lý hóa của môi trường nước không ổn định. Nhiệt độ nước dao động rất lớn giữa ngày và đêm, có thể xuống thấp về đêm (từ 20 -24oC) hoặc tăng cao vào ban ngày (lên đến 32 -35oC), dẫn đến chất lượng lượng nước có nhiều thay đổi gây bất lợi cho đời sống thủy sinh vật, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe động vật thủy sản (ĐVTS) nuôi, nguy cơ mắc bệnh và tỉ lệ hao hụt cao. Bên cạnh đó, nguồn nước nuôi còn có nguy cơ bị nhiễm bẩn bởi chất thải từ các nhà máy, dầu xả thải từ các ghe tàu, thuốc bảo vệ thực vật (vụ lúa ĐX) và nước phèn đổ ra từ ruộng vào các tháng mùa khô cũng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của cá nuôi. Tác nhân gây bệnh cho ĐVTS nuôi luôn hiện diện trong môi trường nước như vi khuẩn, ký sinh trùng, giáp xác ký sinh và nấm gây hại…khi chế độ dinh dưỡng cho cá không cân đối, chất lượng giống kém đồng thời gặp chất lượng nước ao không tốt hoặc vùng nuôi bị ô nhiễm thì vật nuôi sẽ phát sinh bệnh. Do đó, nếu không có biện pháp quản lý và kỹ thuật chăm sóc tốt thì rất dễ lây lan thành dịch bệnh sẽ gây tác hại rất lớn cho nghề nuôi. Do đó, để bắt đầu vụ nuôi mới năm 2017, người nuôi cần chú ý tăng cường các biện pháp như sau:

1. Phải thực hiện tốt công tác phòng bệnh:
- Đặc thù đối tượng nuôi sống trong môi trường nước nên khó phát hiện dấu hiệu bệnh lý kịp thời và hiệu quả điều trị bệnh trên ĐVTS nuôi rất hạn chế, vì thế, nhất thiết người nuôi phải tuân thủ nguyên tắc " Phòng bệnh hơn trị bệnh" trong quản lý dịch bệnh mới có thể nâng cao hiệu quả, giảm rủi ro trong sản xuất.
+ Phải cải tạo ao thật kỹ trước khi thả giống, định kỳ diệt mầm bệnh trong ao và tẩy giun sán cho cá. Định kỳ 10-15 ngày, để khử trùng nước ao có thể dùng vôi nông nghiệp hòa nước và tạt đều khắp ao với liều lượng 1,5-2kg/100m3 nước ao, có thể dùng các loại chế phẩm sinh học hoặc Chlorin, thuốc tím…để xử lý và khử trùng nước ao nuôi. + Thường xuyên theo dõi hoạt động của cá để kịp thời xử lý trường hợp bất thường; Định kỳ 1 lần/tháng lấy mẫu kiểm tra các chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá, mầm bệnh trong ao, cần xử lý nước cấp và lấy mẫu cá (cá bệnh, cá yếu) gửi về Chi cục thủy sản để được hỗ trợ xét nghiệm tác nhân gây bệnh;
- Cần tiêu diệt nguồn gốc gây bệnh: Tiến hành kiểm dịch giống trước khi vận chuyển, dùng các biện pháp xử lý để tránh mang mầm bệnh từ nơi này sang nơi khác như sát trùng cơ thể cá và phương tiện vận chuyển cá. Mặc dù ao đã tẩy dọn kỹ, nhưng cá giống có thể mang mầm bệnh vào ao hồ, nên sau khi kiểm dịch, tùy theo kết quả mà chọn: + Tắm cá bằng CuSO4 5H2O (phèn xanh) 2-5ppm/ 5-15 phút; Muối ăn NaCl 3-5%/ 3-5 phút; Formalin 200-300 ppm/ 15-20 phút
- Tăng sức đề kháng của cơ thể ĐVTS nuôi: Nên mua con giống để ương và nuôi có nguồn gốc bố mẹ rõ ràng, tốt nhất là nên sử dụng con giống đã được chọn lọc có chất lượng cao ở các Trung tâm giống thủy sản và các cơ sở ương có uy tín; định kỳ bổ sung Premix khoáng và Vitamin C thường xuyên để tăng sức đề kháng cho vật nuôi, nhất là vào thời điểm giao mùa.
- Nên sử dụng thêm lá xoan, dây giác, cỏ mực... đập dập rồi bọc lại bằng lưới cước treo ở đầu bè hoặc ở chỗ cho ăn với liều lượng 5-10kg/mỗi lần treo sẽ nâng cao hiệu quả phòng ngừa các bệnh ngoại ký sinh mà vẫn đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm do giảm nhu cầu sử dụng thuốc và hóa chất.
- Cần cải tiến kỹ thuật ương nuôi để cá có sức khỏe tốt: Không nên ương, nuôi mật độ quá dày; cho cá ăn đảm bảo đủ chất và số lượng theo giai đoạn phát triển, nên ứng dụng phương pháp cho ăn gián đoạn (1 tuần ngưng ăn 1 – 2 ngày) hoặc cho ăn 3 ngày đạm cao (30 – 35%) và 3 ngày đạm thấp (22 – 25%) nhằm tăng hiệu quả chuyển hóa thức ăn, giảm FCR và hạn chế chất thải ra môi trường ao nuôi. Khi cá có dấu hiệu bệnh nên giảm lượng thức ăn đồng thời tăng cường quản lý chất lượng nước trong ao ương và nuôi thật tốt, tránh để xảy ra hiện tượng các yếu tố thủy lý hóa biến động lớn và ao nhiễm bẩn trong quá trình sản xuất dễ dẫn đến lây lan thành dịch bệnh.
2. Tuân thủ nguyên tắc sử dụng hóa chất, kháng sinh để trị bệnh cho thủy sản a. Chỉ sử dụng hóa chất, kháng sinh để trị bệnh cho thủy sản khi biết rõ nguyên nhân gây ra bệnh hoặc tác nhân gây bệnh (do vi khuẩn hay virut hay ký sinh trùng) và theo hướng dẫn của cán bộ chuyên môn, nhà sản xuất hoặc theo phác đồ điều trị (liều dùng, cách dùng, thời điểm…).
b. Khi sử dụng hóa chất, kháng sinh, phải:
- Kiểm tra so sánh thông tin trên nhãn hóa chất, kháng sinh với chỉ định điều trị của cán bộ chuyên môn, nhà sản xuất hoặc theo phác đồ điều trị;
- Hóa chất, kháng sinh đang dùng dở, thuốc sắp hết hạn được sử dụng trước;
- Tuyệt đối không sử dụng hóa chất, kháng sinh đã hết hạn sử dụng hoặc hóa chất, kháng sinh đã biến đổi chất lượng;
- Tuân thủ thời gian ngừng sử dụng trước khi thu hoạch theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc cán bộ chuyên môn hoặc cơ quan quản lý nuôi trồng thủy sản địa phương.
c. Ghi thông tin về sử dụng hóa chất, kháng sinh vào hồ sơ lưu trữ theo điều khoản 3.5 của Quyết định 3824/QĐ- BNN-TCTS.
3. Tăng cường trách nhiệm phòng, chống dịch bệnh động vật thủy sản
Chủ cơ sở nuôi phải có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu phòng, chống dịch bệnh động vật thủy sản như sau:
a). Áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch bệnh; chấp hành các quy định về kiểm dịch, quan trắc môi trường, báo cáo dịch bệnh, lưu trữ các loại hồ sơ liên quan tới quá trình hoạt động của cơ sở như con giống; cải tạo ao đầm; chăm sóc, quản lý động vật thủy sản; xử lý ổ dịch, chất thải và nước thải theo hướng dẫn của Chi cục Thú y, cơ quan chuyên ngành nuôi trồng thủy sản.
b) Hợp tác với Chi cục Thú y, Chi cục thủy sản trong việc lấy mẫu thủy sản và mẫu môi trường để kiểm tra các thông số môi trường, dịch bệnh, thu thập thông tin xác định các yếu tố nguy cơ liên quan đến môi trường và dịch bệnh động vật thuỷ sản.
c). Cung cấp thông tin, số liệu, tài liệu về quan trắc môi trường, giám sát, phòng, chống bệnh động vật thuỷ sản theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y.
d) Chỉ sử dụng thuốc, vắc xin, hóa chất, chế phẩm thuộc Danh mục thuốc thú y dùng trong thú y thủy sản được phép lưu hành tại Việt Nam.
e) Tham dự các khóa tập huấn về phòng, chống dịch bệnh động vật thuỷ sản, kỹ thuật nuôi do Chi cục Thú y, Chi cục Thủy sản, khuyến nông, khuyến ngư tổ chức.
4. Phòng, chống dịch bệnh tại cơ sở nuôi cá tra thương phẩm
Ngươi nuôi phải tuân thủ các quy định tại Quy chuẩn quốc gia QCVN 02 - 20: 2014/BNNPTNT do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành kèm theo Thông tư số 22/2014/TT-BNNPTNT ngày 29/7/2014. Ngoài ra, cần lưu ý thêm một số nội dung sau:
a) Xử lý nước, chất thải: Nước xả, chất thải từ ao đang nuôi phải được xử lý đảm bảo yêu cầu vệ sinh thú y bằng vôi bột, hóa chất được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản; Trường hợp ao xảy ra bệnh ở vụ trước, cơ sở nuôi phải xử lý nước đảm bảo không còn mầm bệnh trước khi xả thải.
b) Chọn và thả giống: Cá tra giống phải khỏe mạnh, có nguồn gốc rõ ràng, đáp ứng yêu cầu quy định tại khoản 4 Điều 8 Thông tư này; Mật độ thả nuôi: Theo hướng dẫn của cơ quan quản lý nuôi trồng thủy sản.
c) Quản lý chăm sóc: + Thức ăn: Sử dụng thức ăn có các thành phần, kích cỡ phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của cá; không mang mầm bệnh; Sử dụng vắc xin phòng bệnh theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc cơ quan thú y có thẩm quyền. + Chỉ được sử dụng thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học trong Danh mục thuốc thú y dùng trong thú y thủy sản được phép lưu hành tại Việt Nam và theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành về thú y thủy sản; + Ngừng sử dụng trước khi thu hoạch theo hướng dẫn của nhà sản xuất; +Hàng ngày, theo dõi sức khỏe cá như: màu sắc, khả năng hoạt động, lượng thức ăn tiêu thụ; kiểm tra màu nước, các chỉ tiêu môi trường, sự xuất hiện của các yếu tố địch hại; + Chủ cơ sở nuôi cần theo dõi nắm thông tin về tình hình dịch bệnh xảy ra trong khu vực/vùng, tình hình dự báo thời tiết và cảnh báo dịch bệnh của cơ quan chuyên môn để có biện pháp chủ động phòng tránh dịch bệnh; + Khi cá có dấu hiệu bất thường, chủ cơ sở nuôi phải thông báo ngay cho cơ quan thú y để xác định kịp thời tác nhân gây bệnh.
d) Thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng bệnh: + Kiểm tra các yếu tố môi trường ao nuôi: DO (hàng ngày); pH, độ kiềm (02 ngày/lần); H2S, NH3 (1 tuần/1 lần). + Dụng cụ: Không dùng chung dụng cụ giữa các ao, lồng, bể. Dụng cụ dùng trong quá trình sản xuất phải được vệ sinh, khử trùng trước và sau khi sử dụng. + Người làm việc tại cơ sở nuôi phải thực hiện vệ sinh, khử trùng khi ra, vào cơ sở. + Cá bệnh, cá chết và chất thải của ao bị bệnh phải được thu gom và xử lý kịp thời theo hướng dẫn của cán bộ thú y, cơ quan quản lý thú y thủy sản.
Trong trường hợp ĐVTS nuôi bị bệnh, phải chẩn đoán đúng tác nhân gây bệnh để có biện pháp điều trị thích hợp, không được tùy tiện sử dụng kháng sinh và các hoá chất, nhất là những sản phẩm có chứa hoạt chất nằm trong danh mục Nhà nước cấm hoặc hạn chế sử dụng; tốt nhất nên theo đúng hướng dẫn của chuyên môn kỹ thuật để tránh tồn lưu trong sản phẩm gây mất an toàn thực phẩm dẫn đến tổn hại sức khỏe người tiêu dùng. Hãy liên hệ với Chi cục Thủy sản – ĐT 0703 824104 hoặc 0939999960 để được hỗ trợ kịp thời./.

19/9/16

KỸ THUẬT NUÔI CÁ CHẼM TRONG AO NƯỚC NGỌT
Tiểu Mi – CLBKH – Chi cục Thủy sản
Cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790) là loài cá có tính rộng muối và có tính di cư xuôi dòng. Cá chẽm ở giai đoạn trưởng thành chủ yếu sống ở vùng nước ngọt như sông, hồ. Khi cá đến giai đoạn thành thục (3 - 4 năm tuổi) thì cá sẽ di cư ra vùng cửa sông, ven biển có độ mặn thích hợp từ 30 – 32 ‰ để sinh sản, ấu trùng sau khi nở ra sẽ đưa vào vùng cửa sông, ven bờ và lớn lên, sau đó cá con sẽ dần dần di cư vào các thủy vực nước ngọt để sinh sống và phát triển thành cá thể trưởng thành. Dựa vào đặc điểm rộng muối của cá chẽm thích nghi từ 0 – 30 ‰, mà phong trào nuôi cá chẽm nước ngọt ở ao/hầm hoặc nuôi bè ngày càng được phát triển ở một số tỉnh nội đồng như An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp,…Tuy nhiên, vấn đề quan trọng cần chú ý trước khi tiến hành nuôi cá chẽm thương phẩm trong môi trường nước ngọt là cần phải thuần hóa con giống từ môi trường nước lợ, mặn sang môi trường hoàn toàn nước ngọt.
Nhằm mang lại hiệu quả nuôi cao nhất cho người nuôi, sau đây chúng tôi xin tổng hợp một số kỹ thuật nuôi cơ bản của cá chẽm thương phẩm trong ao nước ngọt:
1. Về thiết kế ao nuôi và cải tạo ao nuôi
Ao nuôi cá kích cỡ từ 1.000 m2 trở lên, thiết kế hình dạng ao nuôi sao cho dễ chăm sóc, quản lý và thu hoạch. Độ sâu của ao thường dao động từ 1,2- 1,5 m và thiết kế cống cấp, cống thoát nước riêng biệt để thuận tiện cho việc chủ động thay nước. 
Trước khi thả nuôi cá cần tiến hành thực hiện công tác cải tạo ao nuôi như: tháo cạn nước, vét bùn, kiểm tra lại bờ ao, lấp các chỗ rò rỉ và hang hốc quanh bờ ao, sau đó tiến hành bón vôi diệt tạp với liều lượng 10-15 kg/100m2, phơi khô đáy ao. Sau đó, cấp nước vào ao nuôi khoảng 0,3- 0,4 m qua lưới lọc để ngăn chặn cá tạp và tiến hành bón phân gây màu nước cho ao nuôi. Sau 2-3 ngày khi nước có màu xanh lục giống màu lá chuối non thì lấy nước vào ao nuôi đạt mực nước 1,2- 1,5 m, sau đó tiến hành thả cá giống.
2. Chọn giống và thả giống
Tiêu chuẩn chọn giống: 
Do cá chẽm là loài cá dữ vì vậy yêu cầu quan trọng về con giống phải chọn kích cỡ đồng đều nhằm hạn chế tối đa sự hao hụt do cá ăn lẫn nhau. Chọn con giống không bị xây xát, cá giống có màu sắc tự nhiên và không bị dị hình, dị tật. Cá giống khoẻ mạnh bơi lội nhanh nhẹn, đồng thời có phản xạ tốt khi có tác động từ bên ngoài. Lưu ý: nên mua giống ở các cơ sở uy tín có đăng ký sản xuất kinh doanh và thực hiện kiểm dịch theo qui định của cơ quan chức năng. 
Thuần hóa con giống:
Trước khi chuyển cá về nuôi trong ao nước ngọt cần thuần hóa cá từ môi trường nước lợ, mặn sang nước ngọt bằng cách pha nước ngọt để hạ độ mặn xuống từ từ, thời gian thuần hóa 5 - 7 ngày cho đến khi cá hoàn toàn thích nghi ở nước ngọt lúc đó mới chuyển vào ao nuôi nước ngọt. Nếu người nuôi chưa có kinh nghiệm thì nên yêu cầu cơ sở sản xuất giống thực hiện trước khi mua để ít hao hụt hơn..
Mật độ giống thả nuôi: 
Chọn con giống thả nuôi có kích thước từ 8 - 10 cm và mật độ thả nuôi là 1,5 - 2 con/m2. 
Chú ý: nên thả giống vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh thả giống vào những ngày mưa lớn. Trước khi thả giống phải ngâm bao chứa cá giống trong ao khoảng 15 - 30 phút cho cá thích nghi dần với điều kiện môi trường của ao nuôi, tránh gây sốc cho cá do nhiệt độ và môi trường nước ao thay đổi đột ngột.
3. Thức ăn và cách cho ăn
Thức ăn:
Thức ăn sử dụng cho cá chẽm rất đa dạng, có thể sử dụng cá tạp hoặc có thể sử dụng kết hợp thức ăn công nghiệp và cá tạp hoặc dùng hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp dùng cho cá có vẩy có hàm lượng Protein (đạm) từ 32 – 40% tùy giai đoạn (cao trong 3 tháng đầu và giảm dần về sau).. . Nên định kỳ hàng tuần trộn thêm Vitamin C và Premix khoáng (liều lượng theo hướng dẫn nhà sản xuất) cho cá để tăng sức đề kháng và cân bằng dinh dưỡng giúp tăng cường chuyển hóa thức ăn..
Cách cho ăn: 
Cho ăn 2 lần/ngày vào buổi sáng (8 giờ) và buổi chiều (17 giờ) với 10% trọng lượng cá trong ao ở 2 tháng đầu. Sau đó chỉ cho ăn 1 lần/ngày vào buổi chiều với 5% trọng lượng cá trong ao Khi cho ăn cần lưu ý chỉ nên cho cá ăn khi cá bơi gần mặt nước và cho cá ăn phải cố định vị trí nhất định trong ao. Cá chẽm là loài cá có tập tính đi theo đàn, cá thường bắt mồi ở tầng giữa là chính, vì vậy chỉ cho cá ăn khi cá bơi lội gần mặt nước.
4. Chăm sóc và quán lý ao nuôi
Hàng ngày kiểm tra bờ ao, cống và mực nước trong ao để kịp thời xử lý các yếu tố bất thường nhằm hạn chế những rủi ro có thể xảy ra. Định kỳ thay nước theo chu kỳ 3 ngày/lần tạo môi trường sạch phù hợp cho cá sinh trưởng và phát triển tốt trong ao.
Ngoài ra, cần theo dõi các yếu tố môi trường trong ao nuôi như: nhiệt độ, oxy hoà tan, pH và các khí độc.­­ Thường xuyên kiểm tra rào chắn ao nuôi nhằm phòng chống các loại địch hại gây hại cho cá. 
5. Một số bệnh thường gặp ở cá chẽm
- Bệnh do nguyên sinh động vật:
Cá do nguyên sinh động vật ký sinh, làm cá bơi lội bất thường như mất thăng bằng, da rướm máu hoặc xây xát, màu sắc không bình thường. Cá bỏ ăn, các mô bị ăn mòn, cá tiết ra nhiều nhớt, xuất huyết và thân bị trương lên hay mắt bị sưng phồng. Cách điều trị: sử dụng formol tạt xuống ao với liều lượng 20 – 25 ppm.
- Bệnh sán lá mang: 
Cá bị nhiễm sán lá thường tiết nhiều dịch nhầy ở mang làm cho cá hô hấp khó khăn, khi tỷ lệ nhiễm sán cao thì có thể gây chết cá hàng loạt. Cách điều trị: tắm cá với dung dịch formol 150 - 200 ppm hoặc phun xuống ao với formol 25 - 30 ppm trong 1 - 2 ngày. 
- Bệnh đỉa cá:
Đỉa cá là loại ký sinh trùng hút máu làm cho cá chậm lớn hoặc gây chết cá. Đỉa cá thường ký sinh ở gốc vây, vẩy, hốc miệng và mũi cá. Cách điều trị: tắm cho cá bằng nước muối 3 - 5‰ hoặc sử dụng formol với nồng độ 20 -25 ppm.
6. Thu hoạch
Sau thời gian nuôi 8 - 10 tháng, cá đạt trọng lượng từ 0,8 – 1 kg thì tiến hành thu hoạch, có thể thu tỉa hoặc dùng lưới kéo thu hoạch toàn bộ cá trong ao. Lưu ý: cá chẽm tươi sống sẽ có giá trị cảm quan và dinh dưỡng cao hơn cá ướp đá, vì thế để tăng hiệu quả sản xuất người nuôi nên chuẩn bị dụng cụ thu hoạch thích hợp có hệ thống sục khí để đảm bảo cá còn sống thì bán sẽ có giá cao hơn./.
CÔNG NGHỆ BIOFLOC TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
ThS. Huỳnh Trấn Quốc - Chi cục Thủy sản
Nước là môi trường sống của các loài thủy sản, do đó để nuôi thủy sản đạt được hiệu quả cao thì vấn đề quản lý chất lượng nước là quan trọng nhất. Tuy nhiên, ở các mô hình nuôi thủy sản thâm canh thì việc kiểm soát chất lượng nước không dễ thực hiện (đặc biệt ở những nơi khó khăn trong việc trao đổi nước) do lượng chất thải thải ra hàng ngày từ mô hình này tương đối lớn. Để khắc phục tình trạng ô nhiễm của ao nuôi, một số biện pháp sinh học đã được áp dụng chẳng hạn như sử dụng chế phẩm sinh học hay áp dụng lọc sinh học; tuy nhiên, chỉ cải thiện được một phần và làm phát sinh đáng kể chi phí. Gần đây, công nghệ Biofloc được áp dụng ngày càng phổ biến và được xem là một giải pháp sinh học hiệu quả để giải quyết các vấn đề môi trường trong ao nuôi thủy sản thâm canh.
Biofloc là gì?
Trong nước ao nuôi thủy sản luôn tồn tại các vi khuẩn dị dưỡng có lợi, các vi khuẩn này có khả năng đồng hóa các chất thải hữu cơ và chuyển thành sinh khối của chúng (rất giàu protein) trong thời gian rất ngắn mà không cần ánh sáng như các loài tảo. Nếu môi trường thích hợp, nhóm vi khuẩn này sẽ phát triển rất nhanh và khi được giữ lơ lửng trong nước liên tục ở một mật độ thích hợp, các vi khuẩn này sẽ kết dính với nhau thành những hạt nhỏ gọi là floc. Các hạt floc này liên tục di chuyển và đính kết các sinh vật nhỏ khác trong ao nuôi, do đó trên hạt floc ngoài nhóm vi khuẩn dị dưỡng thì còn có sự hiện diện của các sinh vật khác như nấm, tảo, động vật phù du và thậm chí là động vật đáy có kích thước nhỏ. Vì thế, các hạt floc này được gọi là Biofloc (hạt sinh học) có giá trị dinh dưỡng khá cao và vì thế có thể dùng làm thức ăn cho thủy sản nuôi.
Nguyên lý hoạt động của hệ thống Biofloc
Hệ thống Biofloc trong ao nuôi chỉ hoạt động khi các vi khuẩn dị dưỡng phát triển đến một sinh khối nhất định và nhóm vi khuẩn này chỉ phát triển tốt khi mà hàm lượng Carbon (C) và Nitơ (N) có trong môi trường sống của chúng được duy trì ở một tỷ lệ C/N thích hợp (khoảng 15/1). Trong các mô hình nuôi thủy sản thâm canh thì hàm lượng N trong ao nuôi thường rất cao do đó để có thể tạo ra môi trường 15C:1N thì phải bổ sung thêm vào ao nuôi nguồn cung cấp giàu C. Các nguồn cung cấp C rẻ tiền thường được sử dụng là nước rỉ đường/mật mía, bột mì/bột sắn hoặc ngũ cốc chất lượng kém. Nếu sử dụng rỉ đường thì liều lượng tốt nhất là 15 - 20 kg/ha/lần và bổ sung vào ao nuôi 2 - 3 lần/tuần. Tuy nhiên, nên khống chế không để các hạt floc phát triển với mật độ quá dày sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động của tôm cá nuôi. Biofloc được duy trì ở mức dưới 15 ml/L trong khi hoạt động là phù hợp.
Ngoài ra, để hệ thống Biofloc hoạt động hiệu quả thì phải duy trì độ khuấy đảo nước trong ao và hàm lượng oxy hòa tan thích hợp. Khi áp dụng hệ thống Biofloc phải đảm bảo các hạt floc được cung cấp oxy và khuấy đảo liên tục, nếu hệ thống ngừng hoạt động thì các hạt floc sẽ lắng xuống đáy và nhanh chóng hình thành các vùng yếm khí, có thể gây chết ngộp cho thủy sản nuôi nhất là những loài thủy sản sống tầng đáy như tôm.
Những đối tượng thủy sản thích hợp để nuôi trong hệ thống Biofloc
Những loài thủy sản có thể chịu đựng được hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) cao và có khả năng sử dụng trực tiếp các hạt biofloc làm thức ăn thì sẽ thích hợp nhất để nuôi trong hệ thống Biofloc. Vì vậy các loài như tôm, cá rô phi hoặc cá chép…. có đặc điểm sinh học phù hợp, do chúng tiêu hóa tốt protein từ vi khuẩn và sử dụng các hạt biofloc như là một nguồn thức ăn. Không nên áp dụng hệ thống Biofloc để nuôi cá da trơn vì nhóm này không chịu đựng được môi trường nuôi có hàm lượng TSS cao.
Các hệ thống Biofloc cơ bản
Có nhiều hệ thống Biofloc khác nhau tùy theo mô hình nuôi, hệ thống nuôi, đối tượng nuôi, nguyên vật liệu sử dụng… nhưng có thể chia hệ thống Biofloc ra thành hai nhóm chính. Thứ nhất là hệ thống Biofloc trong nhà kín (không tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên) hay còn gọi là hệ thống nước nâu do ở mô hình này không có sự hiện diện của tảo trong ao nuôi. Các vi khuẩn dị dưỡng được tạo môi trường thuận lợi để phát triển ngay từ đầu bằng cách bổ sung C, tăng cường oxy hòa tan và khuấy đảo nước. Hệ thống này thường được áp dụng cho các mô hình nuôi tôm nước lợ siêu thâm canh trong nhà kín. Thứ hai là hệ thống Biofloc ngoài trời ( hoặc nuôi trong hệ thống nhà kính) hay còn gọi là hệ thống nước xanh, ở mô hình này nước ao nuôi sẽ chuyển dần từ màu xanh sang màu nâu theo sự giảm dần của mật độ tảo. Đầu tiên, tảo sẽ phát triển và giữ vai trò ổn định nước ao nuôi; tiếp theo đó, nguồn cung cấp C được bổ sung vào kết hợp với tăng cường cung cấp oxy và khuấy đảo nước để các hạt floc phát triển. Khi các hạt floc đạt được mật độ nhất định sẽ cạnh tranh môi trường sống, dinh dưỡng với nhóm tảo và tảo sẽ tiêu biến dần trong ao nuôi do không còn môi trường thích hợp để phát triển.
Các lợi ích của việc áp dụng Biofloc
Nuôi thủy sản theo công nghệ Biofloc đảm bảo mô hình nuôi an toàn sinh học, thủy sản nuôi ít bị dịch bệnh do các vi sinh vật gây bệnh bị ức chế bởi nhóm vi khuẩn dị dưỡng có rất nhiều trong hệ thống nuôi. Vì vậy mà hiệu quả nuôi sẽ được nâng cao do tiết kiệm được chi phí thuốc, hóa chất, thức ăn sử dụng (do tôm cá sử dụng các hạt floc như một nguồn thức ăn sẵn có)… trong khi năng suất và sản lượng sẽ được nâng cao do thủy sản nuôi tăng trưởng nhanh, tỷ lệ sống cao. Mặc dù phải đầu tư hệ thống tăng cường oxy và khuấy đảo nước, tuy nhiên chi phí này là không đáng kể so với hiệu quả mà hệ thống mang lại. Ngoài ra, mô hình này cũng phù hợp cho những vùng nuôi gặp khó khăn trong việc trao đổi nước do chất thải đã được xử lý tại chỗ, không cần thay nước trong suốt vụ nuôi (chỉ bổ sung nước khi cần thiết).
Khả năng áp dụng tại Việt Nam

Ngày nay. ứng dụng công nghệ sinh học rất phổ biến trong nuôi trồng thủy sản trên thế giới trong đó có ứng dụng Biofloc. Tuy nhiên, do chi phí đầu tư cho hệ thống ban đầu khá lớn và yêu cầu nhân lực phải có trình độ hiểu biết nhất định khi vận hành nên trước đây các mô hình nuôi Biofloc ở Việt Nam chủ yếu là ở dạng nghiên cứu, thử nghiệm. Với nguyên lý hoạt động và đặc tính kỹ thuật như trên thì hệ thống Biofloc cũng có thể được áp dụng hiệu quả cho một số mô hình nuôi thủy sản nước ngọt thâm canh như nuôi thương phẩm cá rô phi, sặc rằn và ương giống tôm càng xanh…Hiện nay, đã có một vài mô hình nuôi tôm nước lợ, mặn công nghệ cao áp dụng công nghệ Biofloc được các công ty nuôi thủy sản ứng dụng với quy mô lớn mang lại hiệu quả khá tốt đáp ứng nhu cầu năng suất cao mà sản phẩm vẫn bảo đảm sạch, thân thiện với môi trường…. mở ra triển vọng phát triển hệ thống này trong thời gian sắp tới.   
Hệ thống Biofloc trong nhà kín

24/7/16


CÁ CHẼM – SẢN PHẨM THỦY SẢN ĐÁP ỨNG TỐT NHU CẦU TIÊU THỤ NỘI ĐỊA VÀ XUẤT KHẨU
ThS. Phạm Thị Thu Hồng – CCT Chi cục Thủy sản

Cá chẽm hay cá mè kẽm thuộc bộ cá Vược nên các tỉnh phía Bắc còn gọi là cá vược. Đây là loài cá có giá trị kinh tế cao, thịt rất ngọt lại thơm ngon, dày, trắng nõn, bổ dưỡng, không xương dăm (xương chữ Y), rất dễ chế biến nhiều món ăn hấp dẫn nên cá chẽm là cái tên quen thuộc với các bà nội trợ Việt trong bữa ăn gia đình hàng ngày cũng như các bữa tiệc cho các sự kiện. Đó cũng là loại nguyên liệu rất được ưa chuộng của các đầu bếp chuyên nghiệp kể cả Á lẫn Âu. Với các món lẫu mẻ cá chẽm ngọt thanh, cá chẽm áp chảo nồng nàn với chút rượu, cá chẽm sốt rau củ đầy màu sắc, cá chẽm chưng tương thơm lừng gia vị hay cá chẽm đút lò kiểu Địa Trung Hải với sốt hành đỏ, cà chua bi, dầu ô-liu…sẽ kích thích tất cả giác quan của thực khách để không thể chối từ.
Với nhu cầu tiêu thụ trong nước cũng như các nước trên thế giới nên Cá chẽm là đối tượng chủ lực trong Chương trình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đến 2020 với kim ngạch xuất khẩu năm 2015 là hơn 400 triệu USD và dự báo nhu cầu này vẫn tiếp tục gia tăng trong điều kiện nguồn cá khai thác tự nhiên ngày càng giảm sút. Cá chẽm là loài cá rộng muối, thích nghi từ 0 – 30%o, do cá có khả năng thích nghi với điều kiện môi trường (từ ngọt đến lợ), với các loại thức ăn, tương đối dễ nuôi nên là đối tượng nuôi thích hợp cho người dân, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng trên một đơn vị diện tích mặt nước, đáp ứng nhu cầu thị trường, đa dạng hóa đối tượng, sản phẩm và hạn chế rủi ro do nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu đối tượng này đều cao.
Hiện tại cá chẽm đã trở thành thế mạnh trong nuôi trồng thủy sản một số địa phương ven biển như: Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định…, giúp người dân ổn định kinh tế. Trong thời gian gần đây, chất lượng nguồn nước ven biển ngày càng xấu đi đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất của nghề nuôi đối tượng này nơi đây thì với hình thức nuôi cá chẽm nước ngọt ở ao/hầm hoặc nuôi bè tỏ ra ưu thế hơn và đang dần phát triển ở một số tỉnh nội đồng miền Tây Nam bộ như An Giang, Cần Thơ…. Điển hình như ông Trương Văn Giàu, ông Phạm Đăng Thập…ở TP. Long Xuyên nuôi cá chẽm nước ngọt trong vòng 8 tháng đạt năng suất 12 - 13 tấn/ha với trọng lượng từ 0,8 - 1kg/con, giá bán trung bình từ 65.000-70.000 đồng/kg, lợi nhuận trên 60%. Sau 1 năm nuôi cá sinh trưởng nhanh hơn, có thể đạt trọng lượng 1,5 – 3kg/con sẽ có lợi nhuận cao hơn do cá có kích cỡ càng lớn thì giá bán càng cao (100.000 – 150.000đ/kg). Vì thế, đưa cá chẽm vào nuôi nước ngọt với qui mô công nghiệp sẽ là mô hình lý tưởng phù hợp với định hướng đa dạng hóa đối tượng thủy sản nuôi thích ứng với điều kiện xâm nhập mặn của tỉnh ta trong hiện tại cũng như tương lai./.