TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ SỨC KHỎE THỦY SẢN NUÔI TRONG MÙA KHÔ
ThS. Phạm Thị Thu Hồng
– CCT Chi cục Thủy sản
1.Nguyên
nhân phát sinh bệnh:
Hiện
nay đang là giai đoạn chuyển mùa, thời tiết rất thất thường, nhiệt độ nước biến
động lớn giữa ngày và đêm vào tháng 11- 01 hàng năm (có thể xuống thấp đến
16-22oC) hoặc nhiệt độ tăng cao vào tháng 2- 4 (lên đến 30-35oC),
dẫn đến chất lượng lượng nước có nhiều thay đổi tạo điều kiện thuận lợi sinh vật
gây bệnh cho động vật thủy sản (ĐVTS) phát triển; sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khỏe ĐVTS nuôi, nguy cơ mắc bệnh và tỉ lệ hao hụt cao.
Ngoài
ra, nguồn nước nuôi còn bị nhiễm bẩn bởi chất thải từ các nhà máy, dầu xả các
ghe tàu, thuốc bảo vệ thực vật (vụ lúa ĐX), và nước phèn đổ ra từ ruộng vào các
tháng mùa khô cũng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của cá nuôi. Nguyên nhân cá nhiễm
bệnh thì có nhiều như do cá bị nhiễm khuẩn hoặc bị các loài ký sinh trùng giáp
xác ký sinh và nấm gây hại; do chế độ dinh dưỡng cho cá không cân đối…. khi gặp
chất lượng nước ao không tốt hoặc vùng nuôi bị ô nhiễm sẽ thuận lợi gây bệnh và
lây lan thành dịch bệnh, Do đó, để hạn chế dịch bệnh có thể xãy ra trong giai
đoạn chuyển mùa, người nuôi cần chú ý các biện pháp kỹ thuật phòng bệnh cho vật
nuôi như sau:
2. Một số
bệnh thường gặp trên ĐVTS nuôi
* Bệnh do ký sinh trùng: Vào giai đoạn này, nhiệt độ môi trường thường
xuyên lên cao là yếu tố tạo điều kiện cho các các dạng bệnh ký sinh trùng trên
cá nuôi (đặc biệt là bệnh ngoại ký sinh) như: trùng bánh xe, trùng mỏ neo,
trùng quả dưa… phát sinh.Với xu hướng sản xuất bền vững, để hạn chế ô nhiễm môi trường do sử
dụng các hoá chất độc hại, thì việc dùng muối ăn (NaCl) và vôi nông nghiệp
(CaCO3) khuyên người nuôi sử dụng, cả 2 loại trên cho vào túi vải
(mỗi loại 1 túi) treo ở 4 góc nơi cho cá ăn và nên bắt đầu treo khi cho cá ăn
với liều lượng: + Nuôi bè và đăng quầng: Vôi: 2-5kg/túi, muối 10-20kg/túi;+
Nuôi ao hầm: Vôi: 1-2kg/túi, muối: 5-10kg/túi.
- Tuỳ theo qui mô nuôi, diện tích nuôi
và thể tích nước của đàn cá nuôi mà thay đổi liều lượng. Định kỳ 10-15 ngày thực
hiện 1 lần. Nếu phát hiện cá có biểu hiện giảm ăn, nhào lộn dữ dội,
trên da và mang có nhiều nhớt, chết với số lượng ít và tăng không đáng kể thì
thực hiện treo vôi và muối liên tục trong 3 ngày. Đối với mô hình nuôi ao hầm
thì mỗi ngày còn phải thay 10-15% thể tích nước trong ao.
- Ngoài ra, nên sử dụng thêm lá xoan,
dây giác, cỏ mực... đập dập rồi bọc lại bằng lưới cước treo ở đầu bè hoặc ở chỗ
cho ăn với liều lượng 5-10kg/mỗi lần treo sẽ nâng cao hiệu quả phòng ngừa các bệnh
ngoại ký sinh trên cá trong mùa mưa lũ.
* Bệnh do vi khuẩn:
- Bệnh xuất huyết là một trong những bệnh có tần
số xuất hiện cao nhất trên cá tra nuôi. Ở ĐBSCL bệnh này hiện hầu như quanh
năm, phổ biến nhất là giao mùa, lúc bị sốc do đánh bắt, vận chuyển; ao nuôi có
hàm lượng khí nitrite và ammonia cao, oxy hòa tan thấp. Bệnh có thể xuất hiện ở
tất cả giai đoạn phát triển của cá nuôi.
Nhiều trường hợp hiện tượng bệnh xuất huyết rất khó trị dứt điểm, hiện tượng cá
chết rải rác cứ dai dẳng. Trên thực tế, hiện tượng xuất huyết hoặc đốm đỏ cũng
có thể là dấu hiệu lâm sàng phổ biến của một số tác nhân gây bệnh khác như Edwarsiella
tarda, Speudomonas spp. Dựa vào dấu hiệu bệnh lý chính như đã mô tả
có thể chẩn đoán sơ bộ. Tuy nhiên, để xác định chính xác tác nhân gây
bệnh và lựa chọn loại thuốc hiệu quả, người nuôi cần mang mẫu cá bệnh
đến các phòng chuẩn đoán để định danh tác nhân và làm kháng sinh đồ xác định
loại thuốc đặc trị. với các biểu hiện đốm đỏ trên thân, mắt và hậu môn
sưng đỏ, các vây bị rách, xuất huyết, hoại tử ... khi điều trị nên dùng: Doxycycline. Trong
trường hợp cá còn khả năng bắt mồi, nên dùng thuốc kháng sinh trộn vào thức ăn
và cho cá ăn liên tục ít nhất là 7-10 ngày, với liều lượng 50-80mg/kg cá/ngày.-
Trường hợp ao cá tra bị nhiễm bệnh này, cần phải sử dụng hóa dược để diệt vi
khuẩn trong môi trường nuôi như BKC (Benzalkoium Chloride) hoặc iodine. + Có thể
dùng Oxytetracyclin, Trimethoprim (T) với một loại Sulfamid (S) (Sulfadiazin,
Sulfadimidin, Sulfadimethoxin) để giảm lượng thuốc sử dụng và tăng khả năng
kháng khuẩn.
- Bệnh
gan, thận có mủ trên cá tra: do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra với dấu hiệu bệnh lý bên ngoài
không rõ ràng, một số trường hợp da bị tái nhạt, cá bơi lội chậm chạp, mắt lồi
mang cá màu nhợt nhạt đôi khi có màu trắng bệch, cá kém ăn hoặc bỏ ăn. Dấu hiệu
bên trong của cá bệnh gan thận mủ, ruột không có thức ăn, gan, thận và tỳ tạng
có nhiều đốm trắng li ti và sưng to. Bệnh xuất hiện quanh năm, tập trung nhiều
vào mùa lũ và mùa lạnh, có thể xuất hiện nhiều lần trong cùng vụ nuôi. Lưu ý,
độc lực vi khuẩn tăng khi cá bị sốc, bị nhiễm ký sinh, môi trường
bất lợi và nhiệt độ môi trường thấp (260C) và mức độ hao hụt có thể
đến 50-60%, thậm chí cao hơn. Khi cá bị bệnh, tuyệt đối không
dùng các loại kháng sinh trong danh mục cấm, nên dùng thuốc Florfenicol để trị
với liều lượng 100 - 120g/ tấn thức ăn (tốt nhất nên theo chỉ định của nhà sản
xuất). Sử dụng thuốc này từ 3-5 ngày sẽ cho hiệu quả tốt, cá sẽ hồi phục nhưng
với điều kiện người nuôi phải duy trì khâu vệ sinh diệt mầm bệnh trong khu vực
nuôi, quản lý chất lượng nước tốt và tăng cường dinh dưỡng tốt cho thủy sản
nuôi. Hiện nay đã có vắc-xin phòng bệnh gan thân mủ rất hiệu quả đang được khuyến
khích sử dụng để giảm thiểu thiệt hại cho nghề nuôi.
- Hội
chứng “trắng gan – trắng mang” : Bệnh này xảy ra chủ yếu trên cá tra giống và cá nuôi
thương phẩm trong giai đoạn đầu (dưới 3 tháng tuổi) và thường theo sau một số
bệnh nhiễm khuẩn như bệnh gan thận mủ, xuất huyết…có sử dụng kháng sinh không
đúng cách và điều trị dài ngày (7- 10 ngày). Thời điểm xuất hiện bệnh gần như
quanh năm nhưng tập trung vào những lúc chất lượng nước có nhiều biến động như
giao mùa,
+ Biểu hiện bệnh : Khi cá
mắc bệnh, quan sát bên ngoài thấy vi cá mất màu, mang cá chuyển từ màu đỏ tươi
thành trắng nhạt. cá bơi lờ đờ cập bờ và thường tập trung nơi có nước chảy , cá
sẽ chất nhanh khi vớt ra khỏi ao. Biểu hiện này là do mang cá bình thường có
màu đỏ thắm, là nơi tập trung dày đặc các mạch máu để thực hiện chức năng hô hấp-
vận chuyển và trao đổi khí. Sự mất màu và chuyển sang màu trắng nhạt ở mang là
do hồng cầu đã biến mất, sụt giảm nghiêm trọng hoặc không có huyết sắc tố
(hemoglobin). Mặc dù hiện nay chưa có thuốc đặc trị,
nhưng dựa trên nguyên lý và cơ chế phát sinh bệnh thủy sản nói chung, người
nuôi vẫn có thể giảm thiểu tác nhân gây bệnh và thiệt hại do hội chứng này nói
riêng và các loại bệnh khác nói chung bằng các biện pháp tổng hợp sau đây:
3. Biện pháp kỹ thuật trong quản lý dịch bệnh để
nâng cao hiệu quả, giảm rủi ro trong sản xuất
- Phải tuân thủ nguyên tắc "
Phòng bệnh hơn trị bệnh" trong quản
lý dịch bệnh:
+
Cải tạo ao thật kỹ trước khi thả giống, định kỳ diệt mầm bệnh trong ao
và tẩy giun sán cho cá. Cần bổ sung Sorbitol và Vitamin C thường xuyên vào thức
ăn để tăng cường sức đề kháng cho cá khi môi trường thay đổi.
+
Trong trường hợp cá nuôi bị bệnh, phải chẩn đoán đúng tác nhân gây bệnh
để có biện pháp điều trị thích hợp, không được tùy tiện sử dụng kháng sinh và
các hoá chất, nhất là những loại nằm trong danh mục cấm hoặc hạn chế sử dụng mà
Nhà nước đã qui định.
+
Định kỳ 10-15 ngày, để phòng bệnh cho cá và khử trùng nước ao, dùng vôi
nông nghiệp hòa nước và tạt đều khắp ao với liều lượng 1,5-2kg/100m3 nước
ao.Có thể dùng các loại chế phẩm sinh học hoặc Chlorin, thuốc tím…để xử lý và
khử trùng nước ao nuôi.
- Tiêu diệt nguồn gốc gây bệnh: Tiến
hành kiểm dịch giống trước khi vận chuyển, dùng các biện pháp xử lý để tránh
mang mầm bệnh từ nơi này sang nơi khác như sát trùng cơ thể cá. Mặc dù ao đã tẩy dọn kỹ, nhưng cá giống có thể
mang mầm bệnh vào ao hồ, nên sau khi kiểm dịch, tùy theo kết quả mà chọn: + Tắm cá bằng CuSO4 5H2O
(phèn xanh) 2-5ppm/ 5-15 phút; Muối
ăn NaCl 3-5%/ 3-5 phút; Formalin
200-300 ppm/ 15-20 phút
- Tăng sức đề kháng của cơ thể ĐVTS nuôi: Nên mua con
giống để ương và nuôi có nguồn gốc bố mẹ rõ ràng, tốt nhất là nên sử dụng con
giống đã được chọn lọc có chất lượng cao ở các Trung tâm giống thủy sản và các
cơ sở ương có uy tín; định kỳ bổ sung Vitamin C để tăng sức đề kháng cho
vật nuôi, nhất là vào thời điểm giao mùa.
4. Cải
tiến kỹ thuật ương nuôi để cá có sức khỏe tốt
Không nên ương, nuôi mật độ quá dày; cho cá ăn
đảm bảo đủ chất và số lượng theo giai đoạn phát triển, ứng dụng phương pháp cho
ăn gián đoạn (1 tuần ngưng ăn 1 – 2 ngày) nhằm tăng hệ số chuyển hóa thức ăn và
hạn chế chất thải ra môi trường ao nuôi, lúc cá có dấu hiệu bệnh nên giảm lượng
thức ăn; ứng dụng phương pháp cho ăn gián đoạn để giảm chất thải; Quản lý chất
lượng nước trong ao ương và nuôi thật tốt, tránh để xảy ra hiện tượng các yếu tố
thủy lý hóa biến động lớn và ao nhiễm bẩn trong quá trình sản xuất;
Thường xuyên theo dõi hoạt động của
cá để kịp thời xử lý trường hợp bất thường; -Định kỳ 1 lần/tháng lấy mẫu kiểm
tra các chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá, mầm bệnh trong ao, cần xử lý nước cấp và lấy
mẫu cá (cá bệnh, cá yếu) để xét nghiệm tác nhân gây bệnh; sử dụng thuốc. hóa chất
phải tuân thủ theo qui định, sử dụng kháng sinh điều trị các bệnh nhiễm khuẩn
phải đúng theo hướng dẫn của chuyên môn kỹ thuật, tuyệt đối không được dùng các
sản phẩm có chứa hoạt chất trong danh mục nhà nước cấm sử dụng trong quá trình
nuôi với bất kỳ mục đích sử dụng nào để tránh tồn lưu trong sản phẩm gây mất an
toàn vệ sinh thực phẩm và sức khỏe người tiêu dùng./
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét