19/12/14

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ SỨC KHỎE THỦY SẢN NUÔI TRONG MÙA KHÔ
            ThS. Phạm Thị Thu Hồng –  CCT Chi cục Thủy sản
1.Nguyên nhân phát sinh bệnh:
Hiện nay đang là giai đoạn chuyển mùa, thời tiết rất thất thường, nhiệt độ nước biến động lớn giữa ngày và đêm vào tháng 11- 01 hàng năm (có thể xuống thấp đến 16-22oC) hoặc nhiệt độ tăng cao vào tháng 2- 4 (lên đến 30-35oC), dẫn đến chất lượng lượng nước có nhiều thay đổi tạo điều kiện thuận lợi sinh vật gây bệnh cho động vật thủy sản (ĐVTS) phát triển; sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe ĐVTS nuôi, nguy cơ mắc bệnh và tỉ lệ hao hụt cao.
Ngoài ra, nguồn nước nuôi còn bị nhiễm bẩn bởi chất thải từ các nhà máy, dầu xả các ghe tàu, thuốc bảo vệ thực vật (vụ lúa ĐX), và nước phèn đổ ra từ ruộng vào các tháng mùa khô cũng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của cá nuôi. Nguyên nhân cá nhiễm bệnh thì có nhiều như do cá bị nhiễm khuẩn hoặc bị các loài ký sinh trùng giáp xác ký sinh và nấm gây hại; do chế độ dinh dưỡng cho cá không cân đối…. khi gặp chất lượng nước ao không tốt hoặc vùng nuôi bị ô nhiễm sẽ thuận lợi gây bệnh và lây lan thành dịch bệnh, Do đó, để hạn chế dịch bệnh có thể xãy ra trong giai đoạn chuyển mùa, người nuôi cần chú ý các biện pháp kỹ thuật phòng bệnh cho vật nuôi như sau:
2. Một số bệnh thường gặp trên ĐVTS nuôi
* Bệnh do ký sinh trùng: Vào giai đoạn này, nhiệt độ môi trường thường xuyên lên cao là yếu tố tạo điều kiện cho các các dạng bệnh ký sinh trùng trên cá nuôi (đặc biệt là bệnh ngoại ký sinh) như: trùng bánh xe, trùng mỏ neo, trùng quả dưa… phát sinh.Với xu hướng sản xuất  bền vững, để hạn chế ô nhiễm môi trường do sử dụng các hoá chất độc hại, thì việc dùng muối ăn (NaCl) và vôi nông nghiệp (CaCO3) khuyên người nuôi sử dụng, cả 2 loại trên cho vào túi vải (mỗi loại 1 túi) treo ở 4 góc nơi cho cá ăn và nên bắt đầu treo khi cho cá ăn với liều lượng: + Nuôi bè và đăng quầng: Vôi: 2-5kg/túi, muối 10-20kg/túi;+ Nuôi ao hầm: Vôi: 1-2kg/túi, muối: 5-10kg/túi.
- Tuỳ theo qui mô nuôi, diện tích nuôi và thể tích nước của đàn cá nuôi mà thay đổi liều lượng. Định kỳ 10-15 ngày thực hiện 1 lần.  Nếu phát hiện  cá có biểu hiện giảm ăn, nhào lộn dữ dội, trên da và mang có nhiều nhớt, chết với số lượng ít và tăng không đáng kể thì thực hiện treo vôi và muối liên tục trong 3 ngày. Đối với mô hình nuôi ao hầm thì mỗi ngày còn phải thay 10-15% thể tích nước trong ao.
- Ngoài ra, nên sử dụng thêm lá xoan, dây giác, cỏ mực... đập dập rồi bọc lại bằng lưới cước treo ở đầu bè hoặc ở chỗ cho ăn với liều lượng 5-10kg/mỗi lần treo sẽ nâng cao hiệu quả phòng ngừa các bệnh ngoại ký sinh trên cá trong mùa mưa lũ.
*  Bệnh do vi khuẩn:
- Bệnh xuất huyết là một trong những bệnh có tần số xuất hiện cao nhất trên cá tra nuôi. Ở ĐBSCL bệnh này hiện hầu như quanh năm, phổ biến nhất là giao mùa, lúc bị sốc do đánh bắt, vận chuyển; ao nuôi có hàm lượng khí nitrite và ammonia cao, oxy hòa tan thấp. Bệnh có thể xuất hiện ở tất cả giai đoạn phát triển của cá  nuôi. Nhiều trường hợp hiện tượng bệnh xuất huyết rất khó trị dứt điểm, hiện tượng cá chết rải rác cứ dai dẳng. Trên thực tế, hiện tượng xuất huyết hoặc đốm đỏ cũng có thể là dấu hiệu lâm sàng phổ biến của một số tác nhân gây bệnh khác như Edwarsiella tarda, Speudomonas spp. Dựa vào dấu hiệu bệnh lý chính như đã mô tả có thể chẩn đoán sơ bộ. Tuy nhiên, để xác định chính xác tác nhân gây bệnh và lựa chọn loại thuốc hiệu quả, người nuôi cần mang mẫu cá bệnh đến các phòng chuẩn đoán để định danh tác nhân và làm kháng sinh đồ xác định loại thuốc đặc trị. với các biểu hiện đốm đỏ trên thân, mắt và hậu môn sưng đỏ, các vây bị rách, xuất huyết, hoại tử ... khi điều trị nên dùng: Doxycycline. Trong trường hợp cá còn khả năng bắt mồi, nên dùng thuốc kháng sinh trộn vào thức ăn và cho cá ăn liên tục ít nhất là 7-10 ngày, với liều lượng 50-80mg/kg cá/ngày.- Trường hợp ao cá tra bị nhiễm bệnh này, cần phải sử dụng hóa dược để diệt vi khuẩn trong môi trường nuôi như BKC (Benzalkoium Chloride) hoặc iodine. + Có thể dùng Oxytetracyclin, Trimethoprim (T) với một loại Sulfamid (S) (Sulfadiazin, Sulfadimidin, Sulfadimethoxin) để giảm lượng thuốc sử dụng và tăng khả năng kháng khuẩn.          
- Bệnh gan, thận có mủ trên cá tra: do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri  gây ra với dấu hiệu bệnh lý bên ngoài không rõ ràng, một số trường hợp da bị tái nhạt, cá bơi lội chậm chạp, mắt lồi mang cá màu nhợt nhạt đôi khi có màu trắng bệch, cá kém ăn hoặc bỏ ăn. Dấu hiệu bên trong của cá bệnh gan thận mủ, ruột không có thức ăn, gan, thận và tỳ tạng có nhiều đốm trắng li ti và sưng to. Bệnh xuất hiện quanh năm, tập trung nhiều vào mùa lũ và mùa lạnh, có thể xuất hiện nhiều lần trong cùng vụ nuôi. Lưu ý, độc lực vi khuẩn tăng khi cá bị sốc, bị nhiễm ký sinh, môi trường bất lợi và nhiệt độ môi trường thấp (260C) và mức độ hao hụt có thể đến 50-60%, thậm chí cao hơn. Khi cá bị bệnh, tuyệt đối không dùng các loại kháng sinh trong danh mục cấm, nên dùng thuốc Florfenicol để trị với liều lượng 100 - 120g/ tấn thức ăn (tốt nhất nên theo chỉ định của nhà sản xuất). Sử dụng thuốc này từ 3-5 ngày sẽ cho hiệu quả tốt, cá sẽ hồi phục nhưng với điều kiện người nuôi phải duy trì khâu vệ sinh diệt mầm bệnh trong khu vực nuôi, quản lý chất lượng nước tốt và tăng cường dinh dưỡng tốt cho thủy sản nuôi. Hiện nay đã có vắc-xin phòng bệnh gan thân mủ rất hiệu quả đang được khuyến khích sử dụng để giảm thiểu thiệt hại cho nghề nuôi.
- Hội chứng “trắng gan – trắng mang” : Bệnh này xảy ra chủ yếu trên cá tra giống và cá nuôi thương phẩm trong giai đoạn đầu (dưới 3 tháng tuổi) và thường theo sau một số bệnh nhiễm khuẩn như bệnh gan thận mủ, xuất huyết…có sử dụng kháng sinh không đúng cách và điều trị dài ngày (7- 10 ngày). Thời điểm xuất hiện bệnh gần như quanh năm nhưng tập trung vào những lúc chất lượng nước có nhiều biến động như giao mùa,
+ Biểu hiện bệnh : Khi cá mắc bệnh, quan sát bên ngoài thấy vi cá mất màu, mang cá chuyển từ màu đỏ tươi thành trắng nhạt. cá bơi lờ đờ cập bờ và thường tập trung nơi có nước chảy , cá sẽ chất nhanh khi vớt ra khỏi ao. Biểu hiện này là do mang cá bình thường có màu đỏ thắm, là nơi tập trung dày đặc các mạch máu để thực hiện chức năng hô hấp- vận chuyển và trao đổi khí. Sự mất màu và chuyển sang màu trắng nhạt ở mang là do hồng cầu đã biến mất, sụt giảm nghiêm trọng hoặc không có huyết sắc tố (hemoglobin). Mặc dù hiện nay chưa có thuốc đặc trị, nhưng dựa trên nguyên lý và cơ chế phát sinh bệnh thủy sản nói chung, người nuôi vẫn có thể giảm thiểu tác nhân gây bệnh và thiệt hại do hội chứng này nói riêng và các loại bệnh khác nói chung bằng các biện pháp tổng hợp sau đây:
3. Biện pháp kỹ thuật trong quản lý dịch bệnh để nâng cao hiệu quả, giảm rủi ro trong sản xuất
- Phải tuân thủ nguyên tắc " Phòng bệnh hơn trị bệnh" trong quản lý dịch bệnh:
+  Cải tạo ao thật kỹ trước khi thả giống, định kỳ diệt mầm bệnh trong ao và tẩy giun sán cho cá. Cần bổ sung Sorbitol và Vitamin C thường xuyên vào thức ăn để tăng cường sức đề kháng cho cá khi môi trường thay đổi.
+  Trong trường hợp cá nuôi bị bệnh, phải chẩn đoán đúng tác nhân gây bệnh để có biện pháp điều trị thích hợp, không được tùy tiện sử dụng kháng sinh và các hoá chất, nhất là những loại nằm trong danh mục cấm hoặc hạn chế sử dụng mà Nhà nước đã qui định. 
+  Định kỳ 10-15 ngày, để phòng bệnh cho cá và khử trùng nước ao, dùng vôi nông nghiệp hòa nước và tạt đều khắp ao với liều lượng 1,5-2kg/100m3 nước ao.Có thể dùng các loại chế phẩm sinh học hoặc Chlorin, thuốc tím…để xử lý và khử trùng nước ao nuôi.
- Tiêu diệt nguồn gốc gây bệnh: Tiến hành kiểm dịch giống trước khi vận chuyển, dùng các biện pháp xử lý để tránh mang mầm bệnh từ nơi này sang nơi khác như sát trùng cơ thể cá. Mặc dù ao đã tẩy dọn kỹ, nhưng cá giống có thể mang mầm bệnh vào ao hồ, nên sau khi kiểm dịch, tùy theo kết quả mà chọn: + Tắm cá bằng CuSO4 5H2O (phèn xanh) 2-5ppm/ 5-15 phút; Muối ăn NaCl 3-5%/ 3-5 phút; Formalin 200-300 ppm/ 15-20 phút
- Tăng sức đề kháng của cơ thể ĐVTS nuôi: Nên mua con giống để ương và nuôi có nguồn gốc bố mẹ rõ ràng, tốt nhất là nên sử dụng con giống đã được chọn lọc có chất lượng cao ở các Trung tâm giống thủy sản và các cơ sở ương có uy tín; định kỳ bổ sung Vitamin C để tăng sức đề kháng cho vật nuôi, nhất là vào thời điểm giao mùa.
4. Cải tiến kỹ thuật ương nuôi để cá có sức khỏe tốt
 Không nên ương, nuôi mật độ quá dày; cho cá ăn đảm bảo đủ chất và số lượng theo giai đoạn phát triển, ứng dụng phương pháp cho ăn gián đoạn (1 tuần ngưng ăn 1 – 2 ngày) nhằm tăng hệ số chuyển hóa thức ăn và hạn chế chất thải ra môi trường ao nuôi, lúc cá có dấu hiệu bệnh nên giảm lượng thức ăn; ứng dụng phương pháp cho ăn gián đoạn để giảm chất thải; Quản lý chất lượng nước trong ao ương và nuôi thật tốt, tránh để xảy ra hiện tượng các yếu tố thủy lý hóa biến động lớn và ao nhiễm bẩn trong quá trình sản xuất;
Thường xuyên theo dõi hoạt động của cá để kịp thời xử lý trường hợp bất thường; -Định kỳ 1 lần/tháng lấy mẫu kiểm tra các chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá, mầm bệnh trong ao, cần xử lý nước cấp và lấy mẫu cá (cá bệnh, cá yếu) để xét nghiệm tác nhân gây bệnh; sử dụng thuốc. hóa chất phải tuân thủ theo qui định, sử dụng kháng sinh điều trị các bệnh nhiễm khuẩn phải đúng theo hướng dẫn của chuyên môn kỹ thuật, tuyệt đối không được dùng các sản phẩm có chứa hoạt chất trong danh mục nhà nước cấm sử dụng trong quá trình nuôi với bất kỳ mục đích sử dụng nào để tránh tồn lưu trong sản phẩm gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm và sức khỏe người tiêu dùng./

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét