KỸ THUẬT SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ CHẠCH
LẤU
ThS. Huỳnh Trấn Quốc - CLBKH
Chi cục Thủy sản
Cá chạch lấu được xem là đặc sản của
vùng Đồng bằng sông Cửu Long do chất lượng thịt thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng
cao. Trong thời gian gần đây, phong trào nuôi cá chạch lấu đang phát triển
nhanh tại các tỉnh thành như An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp… do đây là loài thủy
sản tương đối dễ nuôi, thích hợp với điều kiện địa phương, vốn đầu tư thấp và
có giá trị kinh tế khá cao. Cá chạch lấu được nuôi với các hình thức như trong
bể xi măng, bể lót bạt hay trong các lồng bè sử dụng thức ăn là cá tạp, tép,
cua, ốc... Tuy nhiên, do nhu cầu cá chạch lấu giống ngày càng tăng cao và chủ yếu
được khai thác chủ yếu từ tự nhiên (vào mùa nước nổi) nên sản lượng ngày càng sụt
giảm và không đáp ứng đủ nhu cầu thị trường. Hiện nay, quy trình sinh sản nhân
tạo cá chạch lẩu đã được nghiên cứu thành công và áp dụng tại một số địa phương
trong vùng góp phần thúc đẩy nghề nuôi cá chạch lấu phát triển và đa dạng hóa
các đối tượng thủy sản nước ngọt.
1. Kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ
Mùa vụ sinh sản chính của cá chạch lấu
trong tự nhiên vào khoảng tháng 5 – 9 do đó thời điểm nuôi vỗ cá bố mẹ thích hợp
nhất là tháng 12 và kéo dài đến tháng 4 năm sau. Có thể nuôi vỗ cá bố mẹ trong
ao, bể lót bạt, bể xi măng hay bể composite nhưng phù hợp nhất là nuôi trong ao
và bể xi măng.
- Ao: diện
tích từ 200 – 500 m2, mực nước 1,2 – 1,5 m, ao phải được lấp hết các
hang hóc, bón vôi khử trùng (10 – 15 kg/100m2) và phơi khoảng 2 – 3
ngày trước khi lấy nước vào. Mật độ thả cá là 1 kg cá bố mẹ/20 m2 và
tỷ lệ ghép đực: cái là 2:1. Trong ao cần đặt giá thể cho cá bố mẹ trú ẩn là chà
cây bó thành chùm hoặc ống nhựa PVC (phi 60) cắt thành đoạn dài 50 cm.
- Bể xi măng:
diện tích 20 – 50 m2, mực nước 1 – 1,2 m, mặt trong bể cần phải được
chà láng, chống thấm và được ngâm xả nhiều lần trước khi thả cá. Mật độ thả cá
là 1 kg cá bố mẹ/5 m2 và tỷ lệ ghép đực:cái là 2:1. Trong bể cũng đặt
ống nhựa PVC làm giá thể cho cá bố mẹ.
Cá bố mẹ nuôi vỗ phải khỏe mạnh, đồng
cỡ, không bị dị dạng, xây xát và trọng lượng phải từ 100 g trở lên. Thức ăn
nuôi vỗ cá bố mẹ lá cá tạp, tép, ốc băm nhuyễn và rãi lên các sàn ăn đặt dưới
đáy ao/bể. Cá được cho ăn 2 lần/ngày vào lúc sáng sớm và chiều mát với lượng thức
ăn khoảng 5 – 7% trọng lượng thân. Luôn giữ môi trường nước ao/bể trong sạch,
thức ăn dư thừa phải được vớt ra, định kỳ thay 30% nước với tần suất 2 tuần/lần
đối với nuôi ao và 1 - 2 ngày/lần đối với nuôi trong bể. Hàng tháng phải thu mẫu
cá để kiểm tra tăng trưởng, tình hình dịch bệnh và độ thành thục của cá bố mẹ để
có thể điều chỉnh chế độ nuôi vỗ phù hợp.
2. Kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá chạch lấu
- Kích thích sinh sản: Trước khi tiến
hành gieo tinh nhân tạo thì phải lựa chọn cá bố mẹ thành thục tốt để tiêm kích
dục tố kích thích sinh sản. Cá bố mẹ tham gia sinh sản tốt nhất có chiều dài
khoảng 20 cm, khi vuốt nhẹ gần lỗ sinh dục của cá đực sẽ thất giọt sẹ trắng đục
nhô lên, đối với cá cái quan sát thấy bụng cá to, mềm, lỗ sinh dục hồng, da bụng
mỏng và có thể thấy được buồng trứng nằm dọc theo lườn bụng. Có thể sử dụng một
trong các loại kích dục tố như HCG (liều lượng 2.500 – 3.000 UI/kg cá cái), não
thùy cá chép (4 – 5 mg/kg cá cái) hoặc LHRH-a (150 – 200 µg/kg cá cái) kết hợp
Domperidon (10 mg/kg cái) để tiêm cho cá. Cá được tiêm vào cơ lưng và liều lượng
kích dục tố dùng cho cá đực bằng 1/3 liều dùng cho cá cái. Thời gian hiệu ứng của
thuốc khoảng 46 – 50 giờ ở nhiệt độ 28 – 30oC.
- Gieo tinh nhân tạo: Nhẹ nhàng bắt cá cái, dùng ngón tay
bịt lỗ sinh dục lại để ngăn trứng rơi rớt, lấy khăn mềm quấn cá lại, lau khô
vùng bụng và lỗ sinh dục của cá. Giữ đầu cá hướng về phía trên, mở ngón tay giữ
lỗ sinh dục ra và nhẹ nhàng vuốt phần bụng cá từ trên xuống cho vào bát khô sạch
đã chuẩn bị sẵn. Ngay sau khi vuốt trứng phải cho sẹ vào thụ tinh ngay lặp tức,
thao tác thu sẹ cá đực tương tự thao tác thu trứng và tỷ lệ gieo tinh là 2 đực:3
cái. Trong trường hợp không thu được sẹ bằng cách vuốt thì phải mổ cá đực lấy
buồng tinh nghiền nhỏ để gieo tinh và tỷ lệ gieo tinh là 1 đực:6 cái. Dùng lông
gà quậy đều trứng và sẹ khoảng 2 – 3 phú để tăng tỷ lệ thụ tinh, sau đó cho nước
muối sinh lý 0,9% vào tiếp tục khuấy đều khoảng 5 phút.
- Ấp trứng:
Rãi các trứng đã thụ tinh dính lên các khung bằng lưới mịn kích thước 30x30 cm
để ấp trong các bể nhựa/composite có sục khí hoặc nước chảy. Định kỳ thay 50%
nước trong bể ấp 1 – 2 lần/ngày và sau khi ấp khoảng 40 – 42 giờ thì trứng nở.
Khi trứng nở hết thì lấy khung lưới ra ngoài và đặt các giá thể bằng chùm dây
nylon xé nhỏ làm nơi trú ẩn cho cá bột. Khi cá bột đã rút hết vào giá thể thì
dùng ống nhỏ hút hết các trứng bị ung ở đáy bể. Cá bột sau nở tự dưỡng bằng
noãn hoàng, sau 4 ngày noãn hoàng hết cá con (dài khoảng 0,8 cm) chủ động đi
tìm mồi lúc này đã có thể bố trí cá vào bể ương.
3. Kỹ thuật ương cá bột lên cá giống
Cá bột có thể được ương trong bể xi
măng hoặc bể lót bạt diện tích 2 – 4 m2, mực nước sâu khoảng 0,5 –
0,8 m và mật độ ương là 300 – 500 con/m2. Trong bể có đặt các chùm
dây nylon xé nhỏ hoặc các ống nhựa PVC phi 21 (khi cá được 20 ngày tuổi) làm
nơi trú ẩn cho cá. Trong 10 ngày đầu, cứ 1.000 cá bột được cho ăn 1/4 lòng đỏ
trứng vịt cộng với 15 – 20 g trứng nước và cho ăn 3 lần/ngày. Từ ngày 10 đến
ngày 20, lượng thức ăn tăng lên là 1/3 lòng đỏ trứng gà cộng với 20 – 25 g trứng
nước và cũng cho ăn 3 lần/ngày. Từ ngày 20 đến ngày 30, cho cá ăn trùn chỉ/trùn
quế băm nhỏ theo nhu cầu có bổ sung thêm 25 g trứng nước và cho ăn 2 lần/ngày.
Từ ngày 40 trở đi, cho cá ăn trùn chỉ/trùn quế theo nhu cầu có bổ sung thêm cá
tạp xay nhuyễn. Sau 60 ngày tuổi, cá giống đã có thể ăn hoàn toàn bằng cá tạp
xay nhuyễn và đã sẵn sàng chuyển sang bể nuôi thịt.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét