CÁ THÁT LÁT CƯỜM – ĐỐI TƯỢNG
NUÔI HIỆU QUẢ KINH TẾ CAO
ThS.
Phạm Thị Thu Hồng - CCTS
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có khoảng 236 loài cá nước ngọt thì có
hơn 50 loài được xem là có giá trị kinh tế cao. Trong đó có cá thát lát là đối
tượng có tiềm năng lớn trong quá trình phát triển nuôi trồng thủy sản ở khu vực
này. Trong họ cá thát lát, ở Việt Nam chỉ có 2 loài là cá thát thát
thường (Notopterus notopterus) và
thát lát còm (Chitala chitala). Cá
thát lát có kích thước lớn, tăng trưởng nhanh, thịt ngon, có khả năng thích ứng
rộng với điều kiện thiếu oxy, nuôi ở mật độ cao và sử dụng được nhiều loại thức
ăn.
Với những đặc tính ưu việt như thịt cá thơm ngon, chế biến được nhiều
món ăn cao cấp mà đa số người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng, đặc biệt
là món chả cá thát lát. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn của
thị trường, trong khi nguồn cá khai thác
tự nhiên ngày càng giảm sút, nghề nuôi
cá thát lát đã được phổ biến ở ở ĐBSCL. Trong
những năm gần đây với thành tựu nghiên cứu đã sản xuất giống thành công nên ngày
càng nhiều mô hình nuôi cá thát lát còm ở Hậu Giang, Bạc Liêu, Đồng Tháp, Vĩnh
Long… nuôi hiệu quả góp phần mang lại thu nhập cho người dân và hạn chế sự suy
giảm nguồn cá này trong tự nhiên. Là các loài cá đồng được nhiều người
tiêu dùng ưa thích vì phẩm chất thịt ngon, có giá trị kinh tế nên đang là đối
tượng được chú trong phát triển nuôi hiện nay nhằm đa dạng hóa sản phẩm thủy
sản.
Nuôi đối tượng này không khó, thế nhưng để mang lại hiệu quả cao, người
nuôi cần nắm rõ các đặc điểm sinh học của thát lát cườm: Chúng sống tốt
ở khắp các thuỷ vực nước ngọt trong nội đồng như sông, rạch, ao, mương vườn,
ruộng lúa, cũng có thể sống ở vùng nước lợ có nồng độ muối vài phần ngàn. Cá
thích sống ở những thuỷ vực có nhiều cây cỏ thuỷ sinh với nhiều chất hữu cơ. Ở
giai đọan cá giống, thức ăn thích hợp của chúng là động thực vật nổi, chất hữu
cơ lơ lửng trong ao. Đến giai đoạn ăn được thức ăn đặc trưng của loài, nếu được
cung cấp thức ăn đủ lượng và chất, chúng sẽ tăng nhanh về trong lượng hơn ở
giai đoạn cá giống (chủ yếu tăng trưởng về chiều dài). So với môi trường ngoài
tự nhiên, sống trong môi trường ao nuôi, thời gian cá chuyển thức ăn của chúng
sẽ sớm hơn.
Thức
ăn của cá thát lát chủ yếu là động vật như: cá tép, cua, ốc, phụ phế phẩm nông
nghiệp, khi nuôi trong ao chúng có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn
tự chế biến từ các lọai tấm cám, rau củ quả. Nhìn chúng cả hai loài cá trên khi
ăn được thức ăn của loài đều có thể sử dụng tốt thức ăn tinh do con người cung
cấp. Cá thát lát cườm có cơ quan hô hấp phụ nên có thể nuôi với mật độ cao hơn
một hai lần so với các loài cá khác. Tuy nhiên do có tập tính ăn mồi động vật
nên nước rất mau bị ô nhiễm, ký sinh trùng có điều kiện phát triển và gây bệnh
nên cần quản lý môi trường ao nuôi thật tốt đảm bảo môi trường sống tốt cho vật
nuôi.
Bên cạnh đó, lưu ý: Cá con trong giai đoạn đầu ăn ở tầng nước phía dưới, đến khi
chúng ăn được thức ăn của loài như cá xay, thức ăn chế biến thì mới chuyển lên
ăn tầng trên. Nếu cá đang ở giai đoạn nhỏ chưa lên tầng mặt để tìm thức ăn mà
thả ra ao thì cá sẽ thiếu mồi và hao hụt rất cao Đây là hạn chế của nhiều người
nuôi lọai cá này dẫn đến hiệu quả không cao. Do đó khâu quan trọng hàng đầu
trong việc thả nuôi cá thát lát là kích cỡ và ngày tuổi của con giống. Người
nuôi nhất thiết phải yêu cầu chủ trại giống thử cho cá ăn thức ăn trước khi
quyết định bắt cá: chúng phải ăn được mồi
cá xay nhuyễn mới mua.
- Điều cần thiết thứ hai là khi vừa mua cá
về, cần ương dưỡng trong vèo khoảng một tháng, sau đó phân cỡ và thả nuôi thành
nhiều lô; kích thước cá nuôi từ 4-6cm; mật độ nuôi trong ao 8 – 10 con/m2,
trong vèo từ 20 - 30 con/m2, có thể thả ghép với các
loài cá khác cùng cỡ nhưng không cùng tính ăn. Có thể cho cá ăn các loại thức
ăn tươi sống như cá tép vụn băm nhỏ hay cá - tép nhỏ còn sống thả vào ao cho cá
ăn dần. Hoặc cho cá ăn thức ăn chế biến gồm 30% bột cá và 70% cám. Cần đặt
nhiều sàn ăn trong ao. Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá thát lát cườm khoảng 4kg
cá mồi/1kg cá thịt. Cá nuôi sau 8 - 10 tháng trọng lượng bình quân đạt 0,8kg/con.
Hàng ngày theo dõi tình hình bắt mồi của cá để tăng hoặc giảm lượng thức ăn cho
hợp lý, định kỳ cấp nước mới cho ao hoặc cho nước ra vô theo thủy triều để
chất lượng nước trong ao nuôi luôn sạch tạo điều kiện cho vật nuôi tăng trưởng
tốt.
Với giá cá tươi sống từ 70.000 – 80.000đ/kg,
trừ chi phí sản xuất người nuôi có lời từ 20.000 – 25.000đ/kg, nếu bán vào dịp
Lễ, tết giá còn cao hơn thì quả là đối tượng nuôi này cần được chú ý phát triển
để gia tăng hiệu quả sản xuất trong nuôi trồng thủy sản.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét