23/7/13


CÁ THÁT LÁT CƯỜM – ĐỐI TƯỢNG NUÔI HIỆU QUẢ KINH TẾ CAO
                                                          ThS. Phạm Thị Thu Hồng - CCTS
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có khoảng 236 loài cá nước ngọt thì có hơn 50 loài được xem là có giá trị kinh tế cao. Trong đó có cá thát lát là đối tượng có tiềm năng lớn trong quá trình phát triển nuôi trồng thủy sản ở khu vực này. Trong họ cá thát lát, ở Việt Nam chỉ có 2 loài là cá thát thát thường (Notopterus notopterus) và thát lát còm (Chitala chitala). Cá thát lát có kích thước lớn, tăng trưởng nhanh, thịt ngon, có khả năng thích ứng rộng với điều kiện thiếu oxy, nuôi ở mật độ cao và sử dụng được nhiều loại thức ăn.
Với những đặc tính ưu việt như thịt cá thơm ngon, chế biến được nhiều món ăn cao cấp mà đa số người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng, đặc biệt là món chả cá thát lát. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn của thị trường, trong khi nguồn  cá khai thác tự nhiên ngày càng giảm sút,  nghề nuôi cá thát lát đã được phổ biến ở ở ĐBSCL. Trong những năm gần đây với thành tựu nghiên cứu đã sản xuất giống thành công nên ngày càng nhiều mô hình nuôi cá thát lát còm ở Hậu Giang, Bạc Liêu, Đồng Tháp, Vĩnh Long… nuôi hiệu quả góp phần mang lại thu nhập cho người dân và hạn chế sự suy giảm nguồn cá này trong tự nhiên. Là các loài cá đồng được nhiều người tiêu dùng ưa thích vì phẩm chất thịt ngon, có giá trị kinh tế nên đang là đối tượng được chú trong phát triển nuôi hiện nay nhằm đa dạng hóa sản phẩm thủy sản.
Nuôi đối tượng này không khó, thế nhưng để mang lại hiệu quả cao, người nuôi cần nắm rõ các đặc điểm sinh học của thát lát cườm: Chúng sống tốt ở khắp các thuỷ vực nước ngọt trong nội đồng như sông, rạch, ao, mương vườn, ruộng lúa, cũng có thể sống ở vùng nước lợ có nồng độ muối vài phần ngàn. Cá thích sống ở những thuỷ vực có nhiều cây cỏ thuỷ sinh với nhiều chất hữu cơ. Ở giai đọan cá giống, thức ăn thích hợp của chúng là động thực vật nổi, chất hữu cơ lơ lửng trong ao. Đến giai đoạn ăn được thức ăn đặc trưng của loài, nếu được cung cấp thức ăn đủ lượng và chất, chúng sẽ tăng nhanh về trong lượng hơn ở giai đoạn cá giống (chủ yếu tăng trưởng về chiều dài). So với môi trường ngoài tự nhiên, sống trong môi trường ao nuôi, thời gian cá chuyển thức ăn của chúng sẽ sớm hơn.
Thức ăn của cá thát lát chủ yếu là động vật như: cá tép, cua, ốc, phụ phế phẩm nông nghiệp, khi nuôi trong ao chúng có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn tự chế biến từ các lọai tấm cám, rau củ quả. Nhìn chúng cả hai loài cá trên khi ăn được thức ăn của loài đều có thể sử dụng tốt thức ăn tinh do con người cung cấp. Cá thát lát cườm có cơ quan hô hấp phụ nên có thể nuôi với mật độ cao hơn một hai lần so với các loài cá khác. Tuy nhiên do có tập tính ăn mồi động vật nên nước rất mau bị ô nhiễm, ký sinh trùng có điều kiện phát triển và gây bệnh nên cần quản lý môi trường ao nuôi thật tốt đảm bảo môi trường sống tốt cho vật nuôi.
Bên cạnh đó, lưu ý:  Cá con trong giai đoạn đầu ăn ở tầng nước phía dưới, đến khi chúng ăn được thức ăn của loài như cá xay, thức ăn chế biến thì mới chuyển lên ăn tầng trên. Nếu cá đang ở giai đoạn nhỏ chưa lên tầng mặt để tìm thức ăn mà thả ra ao thì cá sẽ thiếu mồi và hao hụt rất cao Đây là hạn chế của nhiều người nuôi lọai cá này dẫn đến hiệu quả không cao. Do đó khâu quan trọng hàng đầu trong việc thả nuôi cá thát lát là kích cỡ và ngày tuổi của con giống. Người nuôi nhất thiết phải yêu cầu chủ trại giống thử cho cá ăn thức ăn trước khi quyết định bắt cá: chúng phải ăn được mồi cá xay nhuyễn mới mua.
- Điều cần thiết thứ hai là khi vừa mua cá về, cần ương dưỡng trong vèo khoảng một tháng, sau đó phân cỡ và thả nuôi thành nhiều lô; kích thước cá nuôi từ 4-6cm; mật độ nuôi trong ao 8 – 10 con/m2, trong vèo từ 20 - 30 con/m2, có thể thả ghép với các loài cá khác cùng cỡ nhưng không cùng tính ăn. Có thể cho cá ăn các loại thức ăn tươi sống như cá tép vụn băm nhỏ hay cá - tép nhỏ còn sống thả vào ao cho cá ăn dần. Hoặc cho cá ăn thức ăn chế biến gồm 30% bột cá và 70% cám. Cần đặt nhiều sàn ăn trong ao. Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá thát lát cườm khoảng 4kg cá mồi/1kg cá thịt. Cá nuôi sau  8 - 10  tháng trọng lượng bình quân đạt 0,8kg/con. Hàng ngày theo dõi tình hình bắt mồi của cá để tăng hoặc giảm lượng thức ăn cho hợp lý, định kỳ cấp nước mới cho ao hoặc cho nước ra vô theo thủy triều để chất lượng nước trong ao nuôi luôn sạch tạo điều kiện cho vật nuôi tăng trưởng tốt.
Với giá cá tươi sống từ 70.000 – 80.000đ/kg, trừ chi phí sản xuất người nuôi có lời từ 20.000 – 25.000đ/kg, nếu bán vào dịp Lễ, tết giá còn cao hơn thì quả là đối tượng nuôi này cần được chú ý phát triển để gia tăng hiệu quả sản xuất trong nuôi trồng thủy sản.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét