15/9/13


TIÊU CHUẨN ASC – HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỦY SẢN BỀN VỮNG
ThS. Huỳnh Trấn Quốc – CLBKH Chi cục Thủy sản
Nghề nuôi cá tra xuất khẩu ở Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những ngành sản xuất thủy sản phát triển nhanh nhất và đạt sản lượng cao nhất trên toàn thế giới. Mặc dù năm 2012 là một năm vô cùng khó khăn cho ngành hàng này, tuy nhiên tình hình sản xuất và tiêu thụ cá tra vẫn đạt được những quả rất ấn tượng. Với tổng diện tích mặt nước chỉ khoảng 6.000 m2, sản lượng cá tra của toàn vùng đạt hơn 1,25 triệu tấn với kim ngạch xuất khẩu đạt 1,74 tỷ USD. Hiện nay, bên cạnh những khó khăn nội tại, thì cá tra xuất khẩu đang gặp phải rất nhiểu rào cản thương mại trong đó có các rào cản kỹ thuật do các nước nhập khẩu dựng lên. Mỗi quốc gia/khu vực đều đặt ra những tiêu chuẩn riêng của mình đối với sản phẩm thủy sản nhập khẩu, điều này gây không ít bối rối cho doanh nghiệp và người nuôi trong việc tìm ra tiêu chuẩn thỏa mãn yêu cầu của thị trường. Trong số hơn 20 tiêu chuẩn đang được áp dụng cho cá tra hiện nay thì tiêu chuẩn ASC đang nhận được quan tâm rất lớn của của cả người sản xuất và tiêu thụ cá tra do bên cạnh mục tiêu sản xuất ra sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm, tiêu chuẩn ASC cũng rất chú trọng đến sự bền vững về môi trường và xã hội.
1. Tiêu chuẩn ASC là gì?
ASC là tên gọi một Chứng nhận nuôi trồng thủy sản bền vững của tổ chức ASC (Aquaculture Stewardship Council – Hội đồng quản lý Nuôi trồng thủy sản) – được thành lập bởi WWF (Quỹ quốc tế Bảo vệ thiên nhiên) và IDH (Sáng kiến thương mại bền vững Hà Lan) vào năm 2010. Mục đích của ASC là cải thiện ở một mức độ nào đó các vấn đề về môi trường và xã hội liên quan đến các hoạt động nuôi thủy sản. ASC đưa ra từng bộ tiêu chuẩn riêng cho các đối tượng thủy sản khác nhau (cá hồi, tôm sú, cá tra…) và bộ tiêu chuẩn cho cá tra được gọi là PAD (Pangasius Aquaculture Dialogue – Đối thoại Nuôi cá tra). Các tiêu chuẩn của PAD được xây dựng thông qua một quá trình đối thoại có sự tham gia của nhiều bên liên quan như: nhà sản xuất, các nhà bán lẻ, các tổ chức phi chính phủ về môi trường và xã hội, hiệp hội nuôi trồng thủy sản, các học giả, các nhà nghiên cứu, đại diện chính phủ, chuyên gia tư vấn độc lập…
2. Các nội dung chính của tiêu chuẩn PAD/ASC:
PAD đưa ra 103 tiêu chí cụ thể cho hoạt động nuôi cá tra bền vững và tập trung vào 7 nguyên tắc chính:
- Nguyên tắc 1: Tuân thủ tất cả các khung pháp lý của quốc gia và địa phương nơi có trại nuôi hoạt động (4 tiêu chí). Nguyên tắc này đưa ra các tiêu chí để đảm bảo các quy định của địa phương và quốc gia đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản phải được tôn trọng. Chẳng hạn như các yêu cầu về chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy đăng ký hoạt động kinh doanh, tuân thủ luật thuế hay các quy định về sử dụng nước và thải nước…
- Nguyên tắc 2: Trại nuôi phải được đặt, thiết kế, xây dựng và quản lý để tránh (hoặc ít nhất là hạn chế tối đa) các tác động tiêu cực lên người sử dụng và môi trường (11 tiêu chí). PAD yêu cầu vị trí và hoạt động của trại nuôi phải hạn chế tối đa ảnh hưởng đến xã hội môi trường xung quanh. Do đó, yêu cầu cơ sở nuôi cá tra phải nằm trong quy hoạch, vị trí không cản trở lưu thông, đất dành cho sản xuất nông nghiệp, đất đào ao không thải ra thủy vực chung. Đặc biệt, PAD yêu cầu cơ sở nuôi phải cam kết đóng 0,5 USD/tấn cá sản xuất cho Quỹ phục hồi môi trường và xã hội. Ngoài ra, các trại nuôi được yêu cầu phải tuân thủ quy định về lượng nước sử dụng cho hoạt động nuôi cá tra, cụ thể là 5.000 m3/tấn cá.
-  Nguyên tắc 3: Giảm tối đa tác động tiêu cực của hoạt động nuôi cá tra đối với các nguồn lợi đất và nước (15 tiêu chí). Nuôi cá tra thương phẩm là một hoạt động gây tác động rất lớn đến môi trường nước do lượng chất thải tương đối lớn thải ra hàng ngày. Do đó, chất lượng nước thải được PAD giám sát rất chặt chẽ bằng các thông số như phốt pho tổng số (TP), Nitơ tổng số (TN), phần trăm thay đổi hàm lượng oxy hòa tan trong ngày đối với thủy vực nhận nước, hàm lượng oxy hòa tan tối thiểu… Ngoài ra, cơ sở nuôi cũng phải chứng minh được là các loại chất thải từ trại nuôi phải được thu gom, tiêu hủy đúng cách và không thải vào môi trường tự nhiên. Đặc biệt bùn thải không được thải trực tiếp vào vùng nước hoặc hệ sinh thái tự nhiên, cơ sở nuôi phải có ao chứa bùn thải với kích thước phù hợp.   
- Nguyên tắc 4: Giảm thiểu tác động của hoạt động nuôi cá tra lên tính nguyên vẹn về di truyền của quần thể cá tra bản địa (12 tiêu chí). Nguyên tắc này nhằm đảm bảo không đưa các loài thủy sản ngoại lai, không có phân bố tự nhiên tại vùng nuôi vào hệ sinh thái tự nhiên của địa phương. Tuy nhiên, cá tra là loài cá bản địa ở Đồng bằng sông Cửu Long do đó các cơ sở nuôi cá tra ở khu vực này hoàn toàn đáp ứng các tiêu chí của PAD về vấn đề đảm bảo tính di truyền của quần đàn tự nhiên. Ngoài ra, nguyên tắc này cũng yêu cầu các cơ sở nuôi không sử dụng con giống được đánh bắt từ tự nhiên, các con giống lai và biến đổi gen. Ngoài ra, hạ tầng của cơ sở nuôi cũng phải được chứng minh là có khả năng ngăn chặn cá xổng thoát ra ngoài và phải có đặt bẫy để thu hồi cá xổng thoát.
- Nguyên tắc 5: Sử dụng thức ăn và thực hành cho ăn đảm bảo thức ăn đầu vào là bền vững và tối thiểu (8 tiêu chí). Chi phí thức ăn sử dụng trong nuôi cá tra chiếm tỷ lệ cao nhất trong chi phí sản xuất do đó quản lý thức ăn tốt vừa đảm bảo tối đa hóa lợi nhuận vừa giảm thiểu tác động môi trường. PAD chú trọng đến tính bền vững của nguyên liệu sản xuất thức ăn, do đó bột cá sử dụng trong thức ăn phải được sản xuất từ các loài các không bị đe dọa tiệt chủng và bột cá/dầu cá sử dụng phải đạt chứng nhận ISEAL về đảm bảo nguyên liệu bền vững. Ngoài ra, không được sử dụng thức ăn chưa nấu chín và thức ăn được chế biến từ cá tra và các phụ phẩm từ cá tra. Để quản lý hiệu quả sử dụng thức ăn, PAD đưa ra hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) cụ thể là không được vượt quá 1,68 và tỷ lệ cá tương đương thức ăn (FFER) lớn nhất là 5.
- Nguyên tắc 6: Giảm thiểu các tác động lên hệ sinh thái và sức khỏe con người trong khi vẫn tối đa hóa sức khỏe cá, an sinh cá và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm (18 tiêu chí). Nguyên tắc này yêu cầu cơ sở nuôi phải sử dụng các loại thuốc, hóa chất nằm trong danh mục cho phép và tuân theo hướng dẫn của cán bộ chuyên môn, không sử dụng các kháng sinh nguy hiểm cho người, không sử dụng thuốc trị bệnh để phòng ngừa, phải có kế hoạch quản lý sức khỏe động vật. Hồ sơ về con giống; hồ sơ về thuốc, hóa chất , thức ăn sử dụng; hồ sơ ghi chép số lượng cá chết… phải được lưu trữ đầy đủ và cập nhật thường xuyên. Về vấn đề an sinh của thủy sản nuôi, PAD đưa ra các chỉ số cụ thể như: mật độ thả nuôi tối đa tại mọi thời điểm không được vượt quá 38 kg/m2, tỷ lệ tăng trưởng trung bình tối thiểu là 3,85 g/ngày/con và tỷ lệ chết không được vượt quá 20%. Ngoài ra thì không được gây chết các loài địch hại tại cơ sở nuôi đặc biệt là các loài nằm trong sách đỏ.
- Nguyên tắc 7: Phát triển và vận hành trại nuôi thể hiện trách nhiệm xã hội nhằm đóng góp hiệu quả cho sự phát triển cộng đồng và xóa đói giảm nghèo (34 tiêu chí). Nguyên tắc này yêu cầu hoạt động nuôi cá tra phải được thực hiện có trách nhiệm với xã hội và đảm bảo đem lại lợi ích cho người làm việc tại cơ sở và cả cộng đồng địa phương. Cụ thể, cơ sở nuôi phải tuân thủ các quy định của địa phương và quốc gia về luật lao động, lao động trẻ em và lao động thiếu niên, sức khỏe an toàn lao động, tự do đoàn thể và thương lượng tập thể, giờ giấc làm việc, hợp đồng lao động, tiền lương, các vấn đề về công bằng xã hội…. Ngoài ra cơ sở nuôi phải thực hiện việc Đánh giá tác động xã hội (p-SIA) về hoạt động của cơ sở đối với cộng đồng địa phương và phải ưu tiên sử dụng các lao động tại địa phương đó.
3. Khả năng áp dụng:
Việc các sản phẩm cá tra đạt các tiêu chuẩn của PAD và được cấp chứng nhận của ASC đảm bảo với người tiêu dùng rằng các sản phẩm mà họ mua đã được sản xuất có trách nhiệm, giảm thiểu tối đa tác động xấu lên môi trường, đến người lao động và các cộng đồng dân cư xung quanh. Chứng nhận ASC có ý nghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp nói riêng và nghề sản xuất cá tra xuất khẩu nói chung trong việc có thêm các lợi thế cạnh tranh tại những thị trường nhập khẩu lớn và tiềm năng. Khi kinh tế xã hội ngày càng phát triển, người tiêu dùng càng đặc biệt quan tâm hơn đến nguồn gốc sản phẩm bên cạnh các yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng. Vào cuối năm 2010, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam và WWF đã ký bản ghi nhớ nhằm đưa cá tra Việt Nam đạt chứng nhận phát triển bền vững toàn cầu. Cụ thể, theo kế hoạch đến năm 2015 thì 100% sản lượng cá tra xuất khẩu phải được chứng nhận quốc tế (50% đạt chứng nhận ASC). Theo đó, ASC được tin rằng sẽ được phổ biến và áp dụng rộng rãi vào những năm tiếp theo mà trước hết là sự tiên phong của các doanh nghiệp sản xuất cá tra quy mô lớn.
Cho đến nay, khoảng 30 công ty sản xuất cá tra lớn nhất Việt Nam đã và đang nhận được sự hỗ trợ từ các bên ký Thỏa thuận đó là WWF, VASEP, VINAFIS với sự cộng tác tích cực từ các tổ chức Sáng kiến Thương mại Bền vững Hà Lan (IDH), Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV), Anova và Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ), trong đó đã có 15 Công ty được chứng nhận ASC cho các vùng nuôi điển hình như Vĩnh Hoàn, Hùng Vương, Hùng Cá, Gò Đàng, Hoàng Long… Riêng ở Vĩnh Long, dưới sự hỗ trợ từ dự án sự nghiệp nông nghiệp của tỉnh cũng sẽ có 2-3 cơ sở như Doanh nghiệp Năm Vàng, Cổ Chiên… sẽ được chứng nhận ASC  vào cuối năm 2013. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay khi các thị trường nhập khẩu lớn đều có xu hướng giảm sút thì việc nhận chứng nhận ASC càng có ý nghĩa quan trọng hơn bởi đây được coi là một trong những “giấy thông hành” cần thiết để các nhà xuất khẩu thủy sản Việt Nam có thể vững bước vào các thị trường lớn và khó tính trên thế giới như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản…

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét