TIÊU CHUẨN ASC – HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỦY SẢN BỀN VỮNG
ThS. Huỳnh Trấn Quốc – CLBKH
Chi cục Thủy sản
Nghề nuôi cá tra xuất khẩu ở Đồng bằng sông Cửu Long
là một trong những ngành sản xuất thủy sản phát triển nhanh nhất và đạt sản lượng
cao nhất trên toàn thế giới. Mặc dù năm 2012 là một năm vô cùng khó khăn cho
ngành hàng này, tuy nhiên tình hình sản xuất và tiêu thụ cá tra vẫn đạt được những
quả rất ấn tượng. Với tổng diện tích mặt nước chỉ khoảng 6.000 m2, sản
lượng cá tra của toàn vùng đạt hơn 1,25 triệu tấn với kim ngạch xuất khẩu đạt
1,74 tỷ USD. Hiện nay, bên cạnh những khó khăn nội tại, thì cá tra xuất khẩu
đang gặp phải rất nhiểu rào cản thương mại trong đó có các rào cản kỹ thuật do
các nước nhập khẩu dựng lên. Mỗi quốc gia/khu vực đều đặt ra những tiêu chuẩn
riêng của mình đối với sản phẩm thủy sản nhập khẩu, điều này gây không ít bối rối
cho doanh nghiệp và người nuôi trong việc tìm ra tiêu chuẩn thỏa mãn yêu cầu của
thị trường. Trong số hơn 20 tiêu chuẩn đang được áp dụng cho cá tra hiện nay
thì tiêu chuẩn ASC đang nhận được quan tâm rất lớn của của cả người sản xuất và
tiêu thụ cá tra do bên cạnh mục tiêu sản xuất ra sản phẩm an toàn vệ sinh thực
phẩm, tiêu chuẩn ASC cũng rất chú trọng đến sự bền vững về môi trường và xã hội.
1. Tiêu chuẩn ASC là gì?
ASC là tên gọi một Chứng nhận nuôi trồng thủy sản bền
vững của tổ chức ASC (Aquaculture Stewardship Council – Hội đồng quản lý Nuôi
trồng thủy sản) – được thành lập bởi WWF (Quỹ quốc tế Bảo vệ thiên nhiên) và
IDH (Sáng kiến thương mại bền vững Hà Lan) vào năm 2010. Mục đích của ASC là cải
thiện ở một mức độ nào đó các vấn đề về môi trường và xã hội liên quan đến các
hoạt động nuôi thủy sản. ASC đưa ra từng bộ tiêu chuẩn riêng cho các đối tượng
thủy sản khác nhau (cá hồi, tôm sú, cá tra…) và bộ tiêu chuẩn cho cá tra được gọi
là PAD (Pangasius Aquaculture Dialogue – Đối thoại Nuôi cá tra). Các tiêu chuẩn
của PAD được xây dựng thông qua một quá trình đối thoại có sự tham gia của nhiều
bên liên quan như: nhà sản xuất, các nhà bán lẻ, các tổ chức phi chính phủ về
môi trường và xã hội, hiệp hội nuôi trồng thủy sản, các học giả, các nhà nghiên
cứu, đại diện chính phủ, chuyên gia tư vấn độc lập…
2. Các nội dung chính của tiêu chuẩn PAD/ASC:
PAD đưa ra 103 tiêu chí cụ thể cho hoạt động nuôi cá
tra bền vững và tập trung vào 7 nguyên tắc chính:
- Nguyên tắc 1: Tuân
thủ tất cả các khung pháp lý của quốc gia và địa phương nơi có trại nuôi hoạt động
(4 tiêu chí). Nguyên
tắc này đưa ra các tiêu chí để đảm bảo các quy định của địa phương và quốc gia
đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản phải được tôn trọng. Chẳng hạn như các
yêu cầu về chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy đăng ký hoạt động kinh doanh, tuân
thủ luật thuế hay các quy định về sử dụng nước và thải nước…
- Nguyên tắc 2: Trại
nuôi phải được đặt, thiết kế, xây dựng và quản lý để tránh (hoặc ít nhất là hạn
chế tối đa) các tác động tiêu cực lên người sử dụng và
môi trường (11 tiêu chí). PAD yêu cầu vị trí và hoạt động của trại nuôi phải
hạn chế tối đa ảnh hưởng đến xã hội môi trường xung quanh. Do đó, yêu cầu cơ sở
nuôi cá tra phải nằm trong quy hoạch, vị trí không cản trở lưu thông, đất dành
cho sản xuất nông nghiệp, đất đào ao không thải ra thủy vực chung. Đặc biệt,
PAD yêu cầu cơ sở nuôi phải cam kết đóng 0,5 USD/tấn cá sản xuất cho Quỹ phục hồi
môi trường và xã hội. Ngoài ra, các trại nuôi được yêu cầu phải tuân thủ quy định
về lượng nước sử dụng cho hoạt động nuôi cá tra, cụ thể là 5.000 m3/tấn
cá.
- Nguyên tắc 3: Giảm tối đa tác động tiêu cực của
hoạt động nuôi cá tra đối với các nguồn lợi đất và nước (15 tiêu chí). Nuôi cá tra thương phẩm là một hoạt
động gây tác động rất lớn đến môi trường nước do lượng chất thải tương đối lớn
thải ra hàng ngày. Do đó, chất lượng nước thải được PAD giám sát rất chặt chẽ bằng
các thông số như phốt pho tổng số (TP), Nitơ tổng số (TN), phần trăm thay đổi
hàm lượng oxy hòa tan trong ngày đối với thủy vực nhận nước, hàm lượng oxy hòa
tan tối thiểu… Ngoài ra, cơ sở nuôi cũng phải chứng minh được là các loại chất
thải từ trại nuôi phải được thu gom, tiêu hủy đúng cách và không thải vào môi
trường tự nhiên. Đặc biệt bùn thải không được thải trực tiếp vào vùng nước hoặc
hệ sinh thái tự nhiên, cơ sở nuôi phải có ao chứa bùn thải với kích thước phù hợp.
- Nguyên tắc 4: Giảm
thiểu tác động của hoạt động nuôi cá tra lên tính nguyên vẹn về di truyền của
quần thể cá tra bản địa (12 tiêu chí). Nguyên tắc này nhằm đảm bảo không đưa các loài thủy sản ngoại
lai, không có phân bố tự nhiên tại vùng nuôi vào hệ sinh thái tự nhiên của địa
phương. Tuy nhiên, cá tra là loài cá bản địa ở Đồng bằng sông Cửu Long do đó
các cơ sở nuôi cá tra ở khu vực này hoàn toàn đáp ứng các tiêu chí của PAD về vấn
đề đảm bảo tính di truyền của quần đàn tự nhiên. Ngoài ra, nguyên tắc này cũng
yêu cầu các cơ sở nuôi không sử dụng con giống được đánh bắt từ tự nhiên, các
con giống lai và biến đổi gen. Ngoài ra, hạ tầng của cơ sở nuôi cũng phải được
chứng minh là có khả năng ngăn chặn cá xổng thoát ra ngoài và phải có đặt bẫy để
thu hồi cá xổng thoát.
- Nguyên tắc 5: Sử dụng
thức ăn và thực hành cho ăn đảm bảo thức ăn đầu vào là bền vững và tối thiểu (8
tiêu chí). Chi phí
thức ăn sử dụng trong nuôi cá tra chiếm tỷ lệ cao nhất trong chi phí sản xuất
do đó quản lý thức ăn tốt vừa đảm bảo tối đa hóa lợi nhuận vừa giảm thiểu tác động
môi trường. PAD chú trọng đến tính bền vững của nguyên liệu sản xuất thức ăn,
do đó bột cá sử dụng trong thức ăn phải được sản xuất từ các loài các không bị
đe dọa tiệt chủng và bột cá/dầu cá sử dụng phải đạt chứng nhận ISEAL về đảm bảo
nguyên liệu bền vững. Ngoài ra, không được sử dụng thức ăn chưa nấu chín và thức
ăn được chế biến từ cá tra và các phụ phẩm từ cá tra. Để quản lý hiệu quả sử dụng
thức ăn, PAD đưa ra hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) cụ thể là không được vượt
quá 1,68 và tỷ lệ cá tương đương thức ăn (FFER) lớn nhất là 5.
- Nguyên tắc 6: Giảm
thiểu các tác động lên hệ sinh thái và sức khỏe con người trong khi vẫn tối đa
hóa sức khỏe cá, an sinh cá và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm (18 tiêu chí). Nguyên tắc này yêu cầu cơ sở nuôi
phải sử dụng các loại thuốc, hóa chất nằm trong danh mục cho phép và tuân theo
hướng dẫn của cán bộ chuyên môn, không sử dụng các kháng sinh nguy hiểm cho người,
không sử dụng thuốc trị bệnh để phòng ngừa, phải có kế hoạch quản lý sức khỏe động
vật. Hồ sơ về con giống; hồ sơ về thuốc, hóa chất , thức ăn sử dụng; hồ sơ ghi
chép số lượng cá chết… phải được lưu trữ đầy đủ và cập nhật thường xuyên. Về vấn
đề an sinh của thủy sản nuôi, PAD đưa ra các chỉ số cụ thể như: mật độ thả nuôi
tối đa tại mọi thời điểm không được vượt quá 38 kg/m2, tỷ lệ tăng
trưởng trung bình tối thiểu là 3,85 g/ngày/con và tỷ lệ chết không được vượt
quá 20%. Ngoài ra thì không được gây chết các loài địch hại tại cơ sở nuôi đặc
biệt là các loài nằm trong sách đỏ.
- Nguyên tắc 7: Phát
triển và vận hành trại nuôi thể hiện trách nhiệm xã hội nhằm đóng góp hiệu quả
cho sự phát triển cộng đồng và xóa đói giảm nghèo (34 tiêu chí). Nguyên tắc này yêu cầu hoạt động
nuôi cá tra phải được thực hiện có trách nhiệm với xã hội và đảm bảo đem lại lợi
ích cho người làm việc tại cơ sở và cả cộng đồng địa phương. Cụ thể, cơ sở nuôi
phải tuân thủ các quy định của địa phương và quốc gia về luật lao động, lao động
trẻ em và lao động thiếu niên, sức khỏe an toàn lao động, tự do đoàn thể và
thương lượng tập thể, giờ giấc làm việc, hợp đồng lao động, tiền lương, các vấn
đề về công bằng xã hội…. Ngoài ra cơ sở nuôi phải thực hiện việc Đánh giá tác động
xã hội (p-SIA) về hoạt động của cơ sở đối với cộng đồng địa phương và phải ưu
tiên sử dụng các lao động tại địa phương đó.
3. Khả năng áp dụng:
Việc các sản phẩm cá tra đạt các tiêu chuẩn của PAD
và được cấp chứng nhận của ASC đảm bảo với người tiêu dùng rằng các sản phẩm mà
họ mua đã được sản xuất có trách nhiệm, giảm thiểu tối đa tác động xấu lên môi
trường, đến người lao động và các cộng đồng dân cư xung quanh. Chứng nhận ASC
có ý nghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp nói riêng và nghề sản xuất cá tra xuất
khẩu nói chung trong việc có thêm các lợi thế cạnh tranh tại những thị trường
nhập khẩu lớn và tiềm năng. Khi kinh tế xã hội ngày càng phát triển, người tiêu
dùng càng đặc biệt quan tâm hơn đến nguồn gốc sản phẩm bên cạnh các yêu cầu
nghiêm ngặt về chất lượng. Vào cuối năm 2010, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam và WWF đã ký bản
ghi nhớ nhằm đưa cá tra Việt Nam
đạt chứng nhận phát triển bền vững toàn cầu. Cụ thể, theo kế hoạch đến năm 2015
thì 100% sản lượng cá tra xuất khẩu phải được chứng nhận quốc tế (50% đạt chứng
nhận ASC). Theo đó, ASC được tin rằng sẽ được
phổ biến và áp dụng rộng rãi vào những năm tiếp theo mà trước hết là sự tiên
phong của các doanh nghiệp sản xuất cá tra quy mô lớn.
Cho đến nay, khoảng 30 công ty sản xuất cá tra lớn
nhất Việt Nam đã và đang nhận được sự hỗ trợ từ các bên ký Thỏa thuận đó là
WWF, VASEP, VINAFIS với sự cộng tác tích cực từ các tổ chức Sáng kiến Thương mại
Bền vững Hà Lan (IDH), Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV), Anova và Tổ chức Hợp
tác Quốc tế Đức (GIZ), trong đó đã có 15 Công ty
được chứng nhận ASC cho các vùng nuôi điển hình như Vĩnh Hoàn, Hùng Vương, Hùng
Cá, Gò Đàng, Hoàng Long… Riêng ở Vĩnh Long, dưới sự hỗ trợ từ dự án sự nghiệp
nông nghiệp của tỉnh cũng sẽ có 2-3 cơ sở như Doanh nghiệp Năm Vàng, Cổ Chiên…
sẽ được chứng nhận ASC vào cuối năm 2013. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay khi các thị trường nhập khẩu
lớn đều có xu hướng giảm sút thì việc nhận chứng nhận ASC càng có ý nghĩa quan
trọng hơn bởi đây được coi là một trong những “giấy thông hành” cần thiết để
các nhà xuất khẩu thủy sản Việt Nam có thể vững bước vào các thị trường lớn và
khó tính trên thế giới như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét