LIÊN KẾT “CHUỖI
“TRONG NUÔI CÁ TRA – tại sao không!
ThS. Phạm Thị Thu Hồng – PTTK.HIỆP HỘI CÁ
TRA VIÊT NAM
Do lợi nhuận cao gấp nhiều lần so với các ngành hàng nông nghiệp khác,
hơn 10 năm vừa qua con cá tra đã giúp cho hàng ngàn nông dân trở nên
giàu có, hàng trăm doanh nghiệp ăn nên làm ra, giúp ngành thuỷ sản cả nước luôn
giữ tốc độ phát triển cao. Thật hiếm có ngành hàng nào ở Việt Nam có tốc độ tăng trưởng “thần kỳ” như cá tra trong những năm qua. Thế nhưng đằng sau “ánh hào quang” này
lại luôn ẩn chứa những nỗi lo thua lỗ và những nỗi buồn rớt giá của những người
trực tiếp làm nên sự hào nhoáng ấy!.
Sự phát triển quá nhanh của ngành công nghiệp cá tra trong khi môi trường kinh
doanh chưa phát triển tương xứng càng làm cho xung đột lợi ích giữa người nuôi
và doanh nghiệp càng dễ bùng phát và đỉnh điểm cực kỳ khó khăn là từ đầu năm
2013 đến nay. Vì đâu nên nỗi khi hai mắc xích chính trong “chuỗi” sản xuất này
lại không đối xử với nhau như người“cùng
hội cùng thuyền”?
Thực trạng liên kết sản
xuất trong ngành hàng cá tra
Một trong những tồn tại lớn
nhất hiện nay trong sản xuất và tiêu thụ cá tra là mối liên kết theo chuỗi giá
trị, liên kết ngang giữa người nuôi với người nuôi, giữa doanh nghiệp với doanh
nghiệp còn lỏng lẻo. Trước những khó khăn đặt ra về tiêu thụ sản phẩm, Chính
phủ đã có chủ trương tăng cường sự liên kết “4 nhà” gồm: “Nhà quản lý, nhà khoa
học, nhà nông dân và nhà doanh nghiệp” bằng Quyết định 80/TTg ngày 24/6/2002, nhằm tạo mối liên kết mật thiết giúp nông dân tạo ra sản phẩm nông nghiệp
bảo đảm cả chất và lượng, để phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Đây là chủ
trương đúng đắn để đưa nông dân hội nhập quốc tế và nâng sức cạnh tranh nông
sản với các nước khi Việt Nam gia nhập WTO. Sự liên kết này là tất yếu mà các
nước kinh tế phát triển đều đã đi qua và thành công, các địa phương cũng có đầy
đủ các chương trình và kế hoạch triển
khai thực hiện chủ trương này nhưng hình như liên kết “4
nhà” quá khó nên thả nổi?
Kết quả khảo
sát 4 tỉnh (An Giang, Đồng tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long) nuôi cá tra trọng điểm ở
ĐBSCL, các hình thức sản xuất này
trong nuôi cá tra đã hình thành trong vài năm gần đây phổ biến nhất là nông dân liên kết theo hình thức hợp tác xã
(HTX) hoặc chi hội (CH), được gọi là “liên kết ngang” (LKN) và nông dân liên kết
với các doanh nghiệp chế biến thủy sản và/hoặc sản xuất thức ăn cá tra, còn gọi
là “liên kết dọc” (LKD). Hình thức LKD đã hình thành từ 2004, người nuôi liên kết với các
công ty chế biến xuất khẩu thủy sản hoặc công ty sản xuất thức ăn thủy sản theo hợp đồng được ký kết giữa hai bên. Ở hình thức liên kết này,
nông dân được công ty đầu tư 100% thức ăn và khoán chi phí sản xuất khác cho nông hộ gồm: con
giống, thuốc - hóa chất, lương công nhân, thuê ao, điện - dầu và các chi phí khác. Trong đó, chi phí thức ăn được khoán cố định theo hệ số tiêu tốn thức ăn, tỷ lệ đạm và cung cấp theo nhu cầu của nông dân đã đăng ký sản lượng
cá nuôi gia công. Nông dân phải chi trước các khoản chi phí (trừ thức ăn) và được thanh toán lại
các khoản chi phí này sau khi thu hoạch. Theo kết
quả trên thì giá cá bán ở hình thức LK dọc cao hơn so với hình thức riêng lẻ và
LKN.. Hình thức liên kết LKD thể hiện nhiều ưu điểm như: thức ăn được cung cấp
cho cá trong quá trình nuôi, giảm chi phí đầu tư của nông hộ và đầu ra sản phẩm
được bao tiêu. Nhìn chung, đây là hình thức liên kết có ít rủi ro và giúp nông
dân ổn định sản xuất ở ĐBSCL
Thế nhưng, khi có biến động thị trường, doanh
nghiệp (DN) chế biến, thường trách nông dân không tôn trọng hợp đồng, sẵn sàng
"bẻ kèo" khi giá cả diễn biến có lợi cho họ, còn người nuôi luôn cho
rằng các DN ép giá nhằm "tối đa hóa lợi nhuận"! Trong thời gian dài
đã qua, người nuôi cá và doanh nghiệp chế biến vẫn là hai đối thủ chứ chưa là
đối tác của nhau. Khi cá tra có giá cao, khan hiếm hàng, người nuôi cá tra
nguyên liệu có hàng hoá ngoảnh mặt với nhà máy thu mua. Ngược lại, khi cá tra
rớt giá, cung vượt cầu, doanh nghiệp lại “làm ngơ” với người nuôi cá theo kiểu
“kiến ăn cá, cá ăn kiến”. Quá trình thực hiện hợp đồng sản xuất và tiêu thụ cá
tra còn nhiều bất cập do QĐ80/QĐ-TTg với các điều khoản văn bản chỉ dừng lại ở
mức độ khuyến khích, động viên chung chung, thiếu cơ sở pháp lý ràng buộc trách
nhiệm dân sự hoặc hình sự giữa các bên tham gia ký kết hợp đồng dễ dẫn đến
tranh chấp khi có biến động thị trường và người trực tiếp sản xuất bao giờ cũng
găp rủi ro cao nhất. Chung qui cũng vì lợi nhuận riêng nên các DN và người nuôi
cá chưa gắn bó với nhau được.
Rõ ràng mối liên kết lỏng lẻo giữa người nuôi - DN
càng bị tổn thương mỗi khi xảy ra sự cố, họ sẵn sàng đổ tội cho nhau. Vấn đề
xung đột lợi ích giữa người sản xuất - DN không phải mới và không chỉ có ở
ngành nông nghiệp, nhưng đặc biệt ngành hàng cá tra thì gay gắt hơn, thiệt hại
nặng nề hơn mỗi khi có biến động thị trường. Rõ là
cách làm như ta lâu nay thì nông dân là người dễ bị tổn thương nhất: chịu khổ
trước, khổ nhiều nhất và viễn cảnh sẽ là người sướng sau cùng xem ra chưa biết
đến bao giờ! Thế mới thấm thía đòi hỏi cái TÂM của doanh nghiệp cá tra sao mà
“xa xỉ”, và cái “TẦM” của các thành phần trong chuỗi liên kết ngành hàng cần
siết bao!
* Liên kết
sản xuất - giải pháp căn cơ cần hành động ngay để tồn tại
Liên kết sản xuất không phải là gỉai pháp mới, tuy nhiên
đã có mấy mô hình liên kết thật sự và bền vững? Đến lúc ngành hàng đã chạm tận
đáy nên giải pháp này phải cần chung tay hành động ngay. Cần thiết lập mối quan
hệ chặt chẽ giữa người nuôi cá, cung cấp giống và thức ăn cùng với các doanh
nghiệp chế biến, xuất khẩu, nhằm ổn định “đầu vào, đầu ra”, giảm đến mức thấp
nhất rủi ro về giá cả, thị trường. Phải có một đầu mối liên kết dựa trên sự hợp
tác tự nguyện giữa chính quyền, ngành nông nghiệp các tỉnh trong vùng cung cấp
và tiếp nhận thông tin để mỗi khi gặp khó khăn phát sinh, cùng hợp lực giải
quyết.
1. Tăng cường liên kết
“chuỗi”, trọng tâm:
- Người nuôi: nên tổ chức lại sản xuất theo hướng
quản lý cộng đồng thông qua việc thành lập các HTX, cùng hỗ trợ và giám sát lẫn
nhau trong việc ứng dụng các qui trình nuôi tiên tiến để sản phẩm đảm bảo an
toàn vệ sinh thực phẩm, thân thiện với môi trường theo yêu cầu thị trường với
giá thành hợp lý có khả năng cạnh tranh cao; nên có hợp đồng tiêu thụ có giá
trị pháp lý ngay từ đầu vụ nuôi (đây là cơ sở tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn
vay) để an tâm sản xuất và có cơ sở tự bảo vệ mình nếu có xãy ra tranh chấp.
- Nhà doanh nghiệp: cần minh bạch trong việc cung
cấp các thông tin thị trường và yêu cầu chất lượng sản phẩm của khách hàng cho
người nuôi, cho nhà khoa học và nhà nước để tổ chức sản xuất ra sản phẩm theo
yêu cầu của thị trường và khách hàng; lấy việc cải tiến nâng cao giá trị sản
phẩm, chủ động sáng tạo phát triển, mở rộng thị trường và quan tâm chia sẻ
quyền lợi với người nuôi là phương châm kinh doanh để góp phần phát triển ngành
hàng cá tra phát triển ổn định, bền vững. Ngoài ra, các doanh nghiệp chế biến
cần đoàn kết lại và thành lập những hội, đoàn, tập đoàn kinh tế để hỗ trợ lẫn
nhau trong chế biến, trong cân đối nguồn nguyên liệu, bảo quản và điều tiết giá
thị trường. Tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, gây thiệt hại kinh tế
cho sản phẩm cùng loại trên thị trường. Đoàn kết trong kinh tế, trong việc nâng
cao uy tín, thương hiệu và sản phẩm cá tra chế biến xuất khẩu trên trường quốc
tế chính là cách các DN tự bảo vệ quyền lợi của mình và góp phần phát triển bền
vững cá tra của Việt Nam.
- Nhà nước: + Cấp quốc
gia: hoàn thiện thể chế để có đủ khung pháp lý quản lý chấn chỉnh ngành hàng cụ
thể khẩn trương ban hành Nghị định sản xuất và xuất khẩu cá tra, các qui chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
cá tra và qui định các lĩnh vực liên quan khác. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại thông
qua việc thu thập, phân tích thông tin đưa ra dự báo dài hạn, trung hạn và ngắn
hạn giúp nông dân định hướng sản xuất theo hướng đón đầu thị trường, định hướng
người tiêu dùng.+ Cấp địa phương: Nhanh chóng điều chỉnh quy hoạch địa phương,
triển khai quản lý quy hoạch vùng và vận dụng các chủ trương chính sách (chính
sách đất đai, chính sách đầu tư, tín dụng, khuyến nông, chuyển giao tiến bộ
KHCN...) của Đảng và nhà nước trong từng điều kiện cụ thể để hỗ trợ người nuôi
và doanh nghiệp tổ chức lại sản xuất, chế biến cá tra xuất khẩu có giá trị hàng
hóa cao.
-
Nhà khoa học cần
tập trung nghiên cứu và triển khai ứng dụng công nghệ sinh học trong phương
pháp chẩn đoán nhanh và điều trị hiệu quả các loại bệnh gây tác hại lớn cho
nghề nuôi; lai tạo con giống có chất lượng cao, có khả năng kháng bệnh tốt;
nghiên cứu sản xuất thức ăn công nghiệp có chất lượng cao với giá thành hợp lý; ứng dụng thực hiện các phương pháp cải tiến kỹ tbuật cho
ăn (gián đoạn tần suất và hàm lượng đạm cho ăn..) để giảm chi phí thức ăn, ứng
dụng tiêm chủng Vaccine phòng bệnh gan thận mủ trên cá tra, tăng cường hàm
lượng Oxy trong ao nuôi để cải thiện sức khỏe vật nuôi… để góp phần làm
giảm tối đa giá thành sản xuất, nhằm tối đa hóa lợi
nhuận cho người nuôi.
2. Đổi mới phương
thức hợp đồng thu mua nguyên liệu giữa người nuôi cá tra và các nhà doanh
nghiệp, tăng cường hiệu lực thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật:
- DN thực hiện hình thức ứng trước vốn, vật tư (con
giống, thức ăn..), hỗ trợ kỹ thuật công nghệ và trực tiếp tiêu thụ thủy sản
hàng hóa (mua lại cá tra nguyên liệu); liên kết sản xuất trong đó hộ nông dân
được sử dụng giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn cổ phần, liên kết, liên doanh
với doanh nghiệp hoặc các doanh nghiệp thuê ao sau đó nông dân được sản xuất
trên ao đã góp cổ phần liên doanh, liên kết hoặc cho thuê và bán lại cá tra
nguyên liệu cho doanh nghiệp, tạo sự gắn kết bền vững giữa nông dân và doanh
nghiệp…
-
Hợp đồng tiêu thụ nguyên liệu cá tra giữa các doanh
nghiệp và người nuôi phải là hợp đồng mở. Trong đó giá mua cá tra cho người
nuôi phải là giá sàn bình quân tại thời điểm thu mua. Bãi bỏ lối tư duy thực
hiện hợp đồng tiêu thụ nông sản với giá cứng nhắc lúc ký kết, loại bỏ yếu tố
thị trường làm nảy sinh vấn nạn vi phạm hợp đồng do tác động biến động giá đã
kéo dài nhiều năm.Và nên chăng, trong mỗi hợp đồng cần phải có điều khỏan qui
định tỉ lệ chia sẻ lợi ích và rủi ro khi có chênh lệch về giá do có biến động
thị trường để các bên có sự ràng buộc trách nhiệm lẫn nhau?
Cần xác định rõ trách nhiệm để ngành hàng “cùng
cực” như hiện nay thuộc về ai? Rất cần một cuộc “đai phẩu” để trong sạch hóa
ngành hàng và rát cần đích thân Chính phủ là “bác sĩ” cắt những khối u nhọt đã
tồn tại bấy lâu nay ở một số DN kinh doanh không “đàng hoàng tử tế” – cạnh
tranh không lành mạnh - và Bộ NN&PTNT ” bốc thuốc” để điều trị các “vết
thương” trên cơ thể ngành hàng cá tra bằng các khung pháp lý đủ nguồn lực để hỗ
trợ phục hồi sản xuất. Bên cạnh đó, các bộ/ ngành phối hợp chặt chẽ với các
tỉnh trong khu vực rà soát, đánh giá lại và ổn định sản lượng nuôi, không tăng
nhà máy chế biến trong vùng và tổ chức sắp xếp lại sản xuất; trên cơ sở đó, xây
dựng hoàn thiện quy hoạch phát triển đồng bộ nghề nuôi và chế biến cá xuất
khẩu. Điều chỉnh diện tích nuôi như thế nào, sản lượng bao nhiêu là ổn định để
giữ vững giá trị ngành hàng? Phải tính đến yếu tố cân bằng sinh thái của sông
Tiền và sông Hậu để phân vùng nguyên liệu, tránh gây suy kiệt nguồn lợi và ô
nhiễm môi trường. Cân đối và kiểm soát được các khâu từ sản xuất thức ăn, dịch
vụ kỹ thuật, con giống đến việc nuôi cá, chế biến, tiêu thụ và thị trường xuất
khẩu. Bài toán thực hiện liên kết “chuỗi”thật
sự chưa có đáp số và “con sâu làm rầu
nồi canh” của ngành hàng này ngày nào vẫn còn thì ngày ấy người nuôi chưa hết
lao đao, nghề nuôi chưa thể phát triển ổn định và bền vững để đem lại hiệu quả
kinh tế nhiều mặt, góp phần nâng cao đời sống người dân, thúc đẩy phát triển
kinh tế xã hội cho cả vùng như đã từng./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét