MỘT SỐ LƯU Ý ĐỂ
HẠN CHẾ HAO HỤT KHI NUÔI LƯƠN
ThS. Huỳnh Trấn
Quốc – CLBKH Chi cục Thủy sản
Lươn đồng là đối tượng thủy sản đang nhận được rất nhiều sự quan tâm từ
người nuôi do mô hình đơn giản, dễ nuôi, chi phí đầu tư thấp và mang lại hiệu
quả kinh tế khá cao. Tuy nhiên, cũng có không ít bà con nuôi lươn bị thiệt hại
rất nhiều vì mô hình này, thậm chí tỉ lệ hao hụt lên đến 70-80%. Nguyên nhân
chủ yếu là do con giống chất lượng kém và cách quản lý, chăm sóc chưa phù hợp nên
lươn nuôi bị chết rất nhiều trong suốt quá trình nuôi. Do đó, bên cạnh việc nắm
vững kỹ thuật nuôi thì việc sử dụng con giống chất lượng là yếu tố quyết định
để có được vụ nuôi thành công. Để nâng cao hiệu quả sản xuất, người nuôi cần
lưu ý một số điểm sau:
1. Sử dụng con giống:
- Nguồn gốc: Lươn giống hiện nay có từ 2 nguồn chủ yếu là sinh sản bán nhân tạo và
lươn thu từ tự nhiên. Đối với con giống sinh sản bán nhân tạo thì chất lượng
rất tốt, khi thả nuôi ít hao hụt, thích nghi tốt với các mô hình nuôi khác
nhau, tăng trọng nhanh. Tuy nhiên, nguồn lươn từ sinh sản bán nhân tạo hiện nay
số lượng còn rất ít, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường và giá thành còn
khá cao. Do đó, người nuôi lươn hiện nay sử dụng chủ yếu con giống được đánh
bắt từ tự nhiên với các hình thức như đặt dớn, đặt trúm, nhữ mồi (thuốc), xung
điện… Sản lượng lươn giống từ tự nhiên còn khá có thể cung cấp cho nhu cầu nuôi
nhưng kích cỡ thường không đồng đều, chất lượng lại không ổn định, khi mua
nguồn lươn này người nuôi cần biết rõ hình thức khai thác (không sử dụng mồi
thuốc, xung điện) để hạn chế được hao hụt khi thả giống.
- Lươn giống: Con giống thả nuôi tốt nhất có kích cỡ từ 40 - 60 con/kg, nếu sử dụng
con giống kích cỡ nhỏ hơn thì sẽ khó chăm sóc, lươn hao hụt nhiều và thời gian
nuôi kéo dài. Lựa lươn đồng cỡ, có màu vàng sẫm, sáng bóng, không bị xây xát,
trầy xước, bơi lội nhanh nhẹn.
- Vận chuyển: Lươn giống nên được vận chuyển trong các vật dụng chứa có mặt trong
trơn láng để hạn chế trầy xước, trong đó nên đặt một vài giá thể như lục bình,
dây nylon cho lươn trú ẩn và cho nước vào vừa ngập lươn. Không để lớp lươn dầy
quá 25 cm vì nếu lớp lươn quá dầy những con bên dưới sẽ bị đè và không lấy được
oxy để thở. Không được đậy kín dụng cụ vận chuyển lươn, phải để hở hoặc có đục
lỗ thông không khí. Lươn nên được vận chuyển vào lúc trời mát để chống sốc và
hạn chế hao hụt.
- Thuần dưỡng: Lươn được đánh bắt ngoài tự nhiên nên cơ thể bị trầy xước rất nhiều,
nếu không được xử lý thì ký sinh trùng, vi khuẩn sẽ xâm nhập vào cơ thể lươn từ
những vết thương này gây ra xuất huyết hay vết loét lớn. Lươn mới vận chuyển về
nên được tắm trong nước muối 2% (20g muối hột/1lít nước) trong 1 phút trước khi
thả vào bể thuần dưỡng. Bể thuần dưỡng (diện tích từ 5 - 10 m2) có
thể là các bể lót bạt, hay các bể có bề mặt trơn láng và phải được đặt nơi thoáng
mát không bị ánh nắng chiếu trực tiếp. Mật độ thả vào các bể thuần dưỡng là 4 -
5 kg/m2, trong bể phải đặt nhiều giá thể như lục bình, dây nylon làm
nơi trú ẩn cho lươn và duy trì mực nước trong bể khoảng 10 - 15 cm. Theo kinh
nghiệm của một số người nuôi, sau khi thả lươn nên cho vào bể 1 viên sủi cam (Vitamin
C) và 1 gói (2g) nước biển khô (dung dịch “muối đường’) để chống sốc và bổ sung
các chất điện giải cho lươn mau hồi phục. Trong quá trình thuần dưỡng tuyệt đối
không cho lươn ăn, phải giữ môi trường nước luôn trong sạch do da lươn rất nhạy
cảm với môi trường nước dơ. Nguồn nước sử dụng phải sạch, không bị ô nhiễm
thuốc bảo vệ thực vật, nước thải nhà máy… Những ngày đầu mới thả, do thay đổi
môi trường, lươn quấn lấy nhau nên tiết nhiều nhớt và nước mau ô nhiễm do đó
phải thay nước ít nhất 2 lần/ngày và phải thường xuyên kiểm tra để loại bỏ lươn
chết ra khỏi bể.
- Thả nuôi: Sau khi thuần dưỡng được 7 - 10 ngày, nếu thấy lươn ổn định không còn
chết nữa thì có thể cho lươn vào bể để nuôi thương phẩm. Lươn tự nhiên đã qua
thuần dưỡng tốt nhất nên được nuôi trong các mô hình có bùn hoặc đất làm giá
thể, nếu cho lươn vào mô hình nuôi không bùn chỉ sử dụng giá thể (khung tre,
dây nylon…) thì lươn sẽ tiếp tục hao hụt có thể lên đến 50% do không thích nghi
được môi trường mới. Nếu áp dụng mô hình nuôi lươn không bùn thì người nuôi nên
sử dụng con giống sinh sản bán nhân tạo là phù hợp và mang lại hiệu quả cao
nhất.
2. Chăm sóc và quản lý:
- Cho ăn: Lươn là loài ăn tạp tuy nhiên khi đã quen với một loại mồi nào đó thì
rất khó thay đổi, do đó nên tập cho lươn ăn những loại thức ăn dễ tìm và sẵn có
ở địa phương. Giai đoạn mới tập ăn nếu lươn không ăn mồi thông thường thì phải
sử dụng trùn quế/trùn đất để kích thích lươn bắt mồi vì nếu bỏ ăn quá lâu lươn
sẽ không bắt mồi, suy kiệt từ từ rồi chết. Khi lươn đã ăn mạnh thì phối trộn từ
từ với cá tạp, ốc bươu vàng… và dần dần chuyển hẳn sang mồi tự chế theo các
nguyên liệu sẵn có ở địa phương. Khi cho lươn ăn thì nên quan sát tốc độ bắt
mồi để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp, không để thức ăn dư thừa còn lại
trong bể gây ô nhiễm nước. Trong thức ăn nên bổ sung thêm VitaminC, Premix và
men vi sinh để hỗ trợ tiêu hóa, tăng sức đề kháng và giúp lươn tăng trưởng tốt
hơn. Ngoài ra, do lươn có tập tính thích mồi tanh nên có thể bổ sung thêm chất
kích thích bắt mồi mùi trùn quế để tăng khả năng bắt mồi của lươn.
- Quản lý môi trường nước: Tùy theo mô hình nuôi mà có chế độ thay nước khác
nhau, tuy nhiên phải lưu ý giữ cho nguồn nước luôn sạch, nếu để thức ăn thừa
lắng đọng quá nhiều trong bể sẽ làm cho lươn bị xuất huyết và chết hàng loạt.
Cần phải lưu ý nguồn nước cấp vào có chất lượng nước không chênh lệch nhiều với
nước trong bể nuôi để hạn chế lươn bị sốc nước.
- Phân cỡ lươn: Do lươn nuôi phân đàn rất nhanh nếu không kịp thời phân cỡ sẽ dẫn đến
tình trạng ăn nhau và cạnh tranh mồi làm cho tỷ lệ hao hụt cao và lươn không
đồng cỡ khi thu hoạch sẽ giảm hiệu quả kinh tế. Ở các mô hình nuôi không bùn
nên thực hiện việc phân cỡ lươn hàng tháng do mô hình nuôi này rất dễ dàng thao
tác, lưu ý trước khi phân cỡ lươn phải bỏ đói lươn 1 ngày, phải lựa lươn vào
lúc trời mát và thao tác thật nhanh.
- Phòng trị bệnh: Lươn rất dễ nuôi, hầu như ít có dịch bệnh xảy ra tuy
nhiên nếu để dịch bệnh xảy ra thì rất khó kiểm soát và lươn chết hàng loạt. Do
đó, khâu phòng bệnh là khá quan trọng, các bệnh của lươn nuôi hầu hết đều liên
quan đến môi trường nước, nếu môi trường nước nuôi được quản lý tốt không bị ô
nhiễm thì lươn sẽ ít bị bệnh, tỷ lệ hao hụt thấp và phát triển nhanh. Định kỳ 2
tuần/lần nên dùng Iodine (1 - 2 ml/m3) để sát trùng bể lươn và 2
tuần/lần phải xổ nội ký sinh cho lươn để lươn phát triển tốt hơn. Chỉ sử dụng
kháng sinh để điều trị bệnh khi lươn bị các bệnh do vi khuẩn gây ra như lở
loét, xuất huyết…; sử dụng liên tục 3 - 5 ngày và chỉ sử dụng các loại kháng
sinh được phép dùng trong nuôi trồng thủy sản.
3. Thu
hoạch: Để tránh tổn thất sau thu hoạch nên chọn thời điểm thu lươn vào lúc sáng sớm hay
chiều mát, thao
tác nhẹ nhàng để bắt từng mẻ và thu gom, sau đó rửa sạch bùn đất bám trên da và mang lươn trong bể chứa tạm trước khi vận
chuyển đến nơi tiêu thụ; nên vận chuyển nhanh và không vận chuyển lươn với mật độ quá cao làm lớp lươn
bên dưới ngộp và chết./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét