1/1/14



     PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT GIỐNG LƯƠN ĐỒNG – HIỆU QUẢ TỪ MỘT DỰ ÁN
                                                                   ThS. Phạm Thi Thu Hồng – CCTS
Lươn là loài thủy đặc sản được thị trường trong và ngoài nước rất ưa chuộng do phẩm chất thịt thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao.Thế nhưng, do khai thác bừa bãi và không có ý thức bảo vệ, tái tạo nguồn lợi nên nguồn lươn từ tự nhiên bị suy giảm nhanh chóng. Vì thế, trong những năm gần đây nông dân Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) rất chú ý đến nghề nuôi lươn để đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho người tiêu dùng.Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất trong thời gian qua là vẫn chưa sản xuất được lươn giống nhân tạo thành công, lươn giống của mô hình nuôi thường được mua lại từ khai thác trong tự nhiên, nguồn giống vẫn chưa được thuần hóa nên hiệu quả nuôi rất thấp.Để có đủ lươn nuôi người dân phải thu gom từ nhiều nguồn, vận chuyển tốn kém, lươn bị trầy xước, chất lượng không ổn định (do bị xuyệt điện, mồi thuốc, bắt tay.. làm lươn tuột nhớt, gãy xương sống…). Trong khi đó, giống là yếu tố rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của mô hình nuôi nên kết quả sản xuất của đại đa số các cơ sở ở ĐBSCL nói chung và Vĩnh Long noí riêng trong thời gian qua đều không cao và ổn định, tỉ lệ lệ hao hụt từ 40 – 90%, thậm chí có mô hình hao hụt hoàn toàn.
Ở Vĩnh Long, trước 2012, các mô hình nuôi cũng đã hình thành ở các huyện Tam Bình, Bình Minh, Bình Tân, Mang Thít và rãi rác ở các huyện khác. Tuy nhiên, các hộ nuôi lươn trước đây đã ngưng sản xuất do không có giống đảm bảo số và chất lượng. Điển hình như ở huyện Tam Bình, những năm trước có khoảng 150 hộ nuôi nay chỉ còn khoảng 45-50 hộ nuôi; huyện Bình Tân hiện còn khoảng 45 hộ nuôi chiếm 30% so trước đó, các hộ nuôi đều có qui mô nhỏ, hộ gia đình. Đặc biệt ở Tam Bình có 01 hộ sản xuất lươn giống tự phát qui mô khoảng 500m2 đã cho đẻ được, nhưng tỷ lệ  ương lên giống rất thấp, không đạt hiệu quả sản xuất. Hiện nay, nhu cầu lươn giống  không đáp ứng được cho bà con phát triển nuôi với qui mô lớn hơn, thường người nuôi mua giống từ nguồn giống tự nhiên nên tỷ lệ hao hụt nhiều do lươn bị ủ thuốc hoặc khai thác từ nguồn điện. Người nuôi không chọn được lươn giống chất lượng tốt, nuôi khoảng 7 ngày lươn bắt đầu chết và có thể chết hết đến ngày thứ 15. Lươn giống nhân tạo hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu của người nuôi. Đây là tồn tại rất lớn trong sản xuất mà người nuôi chưa thể khắc phục để phát triển nếu không có sự hỗ trợ của các cơ quan chuyên môn nhất là các nhà khoa học.Và đây cũng là nguyện vọng thiết tha và chính đáng của nông dân có tâm huyết với nghề.
Với thực trạng trên, để đáp ứng cho nhu cầu phát triển nuôi đối tượng này Chi cục thủy sản Vĩnh Long thực hiện dự án ”Chuyển giao kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm lươn đồng bằng phương pháp sinh sản bán nhân tạo giai đoạn 2011-2013” với mục tiêu chung (1) Phát triển và chuyển giao qui trình kỹ thuật sản xuất giống bằng phương pháp bán nhân tạo và nuôi lươn thương phẩm cho người sản xuất để chủ động sản xuất con giống cung cấp cho người nuôi nhằm đa dạng hóa đối tượng nuôi thủy sản, góp phần phát triển sản xuất hiệu quả và bền vững; và (2)  Đào tạo và huấn luyện nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật đáp ứng nhu cầu sản xuất, tạo khả năng phát triển sâu rộng đối tượng thuỷ đặc sản có giá trị  kinh tế cao trong nông nghiệp, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho nông dân, góp phần thực hiện thắng lợi Chương trình hành động số 23-CTr/TU của Tỉnh Ủy và Đề án “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn” của UBND tỉnh.
Được Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long chính thức phê duyệt tại Quyết định số 2460/QĐ-UBND ngày 27/12/2011 với thời gian thực hiện 03 năm , nhưng với sự nổ lực quyết tâm thật cao của của chủ đầu tư và sự hưởng ứng rất tích cực của người dân trong vùng dự án nên dự án đã về đích sớm hơn nhiều so với dự kiến (gần 20 tháng).
            Từ kết quả của đầu năm 2012, sau khi xác lập qui trình sản xuất giống lươn đồng bằng phương pháp sinh sản bán nhân tạo, Chi cục Thủy sản đã chuyển giao kỹ thuật và nhân rộng mô hình sản xuất giống lươn bằng phương pháp sinh sản bán nhân tạo cho 04 hộ nông dân ở xã Mỹ Thạnh Trung, xã Mỹ Lộc, huyện Tam Bình – tỉnh Vĩnh Long với tổng diện tích bể lót bạt 96 m2 (24 m2/mô hình). Kết quả thật đáng phấn khởi với số lươn giống thu được từ 2 mô hình đầu tư sản xuất giống năm 2012 là 32.822 con giống cỡ 3-5gam/con, đạt 212% so với chỉ tiêu  dự án mang lại lợi nhuận bình quân 997.000đ/m2 bể. Đến  năm 2013, với kinh nghiệm đã có, kết quả chuyển giao cho dân được nâng lên rõ rệt từ 02 mô hình tiếp theo đã thu được 36.979 con lươn giống với cỡ 3 - 5g/con, đạt 264% chỉ tiêu kế hoạch, trừ hết chi phí đầu tư nông hộ có lời bình quân 1.150.000đ/m2 bể. Với mô hình sản xuất giống này, với qui mô  24m2, sau 10 tháng người nuôi có lợi nhuận khá cao dao động từ 9.741.000 - 40.952.000 đ/24m2/MH với tỉ suất lợi nhuận từ 45,5- 129,8%.
        Đối với mô hình nuôi thương phẩm, hiệu quả sản xuất đã được nâng lên từ việc sử dụng con giống được sinh sản bán nhân tạo so với trước đây sử dụng giống tự nhiên được đánh bắt với nhiều hình thức mang tính hủy diệt và với nhiều kích cỡ không đồng đều. Cụ thể với 24 mô hình được dự án hỗ trợ đầu tư nuôi thương phẩm, con giống được cung cấp từ nguồn giống của các mô hình sản xuất giống lươn bằng phương pháp sinh sản bán nhân tạo, sau 9 tháng nuôi, kết quả đạt tỉ lệ sống trung bình (70,7%) cao hơn mô hình sử dụng giống tự nhiên không rõ nguồn gốc (30 – 40%), kích cỡ lươn khi thu hoạch đồng đều, sản lượng từ 270kg - 336kg/ MH  với năng suất đạt từ 6.5kg -  8.4kg/ m2 nên lợi nhuận khá cao, dao động từ  7.822.000 - 18.202.000đ/40m2/MH với tỉ suất lợi nhuận từ 34,7 - 82,3% . các mô hình này đã cung ứng cho xã hội khoảng 7 tấn lươn thương phẩm đạt chất lượng cao.
         Bên cạnh đó, dự án đã tổ chức đào tạo 100 kỹ thuật viên thành thạo kỹ thuật sinh sản bán nhân tạo và ương lươn giống cho ngư dân trong tỉnh (huyện Tam Bình, Long Hồ, Bình Tân). Sau đó các kỹ thuật viên này bằng nguồn vốn tự có đã tiến hành nhân rộng mô hình sản xuất với 1.200m2 bể cung cấp hơn 316.000 con giống cho nhu cầu nuôi thương phẩm trong và ngoài tỉnh (Cần Thơ, Hậu Giang…).
Từ khi thực hiện đến nay, dự án đã thu hút đông đảo bà con nông dân trong tỉnh hưởng ứng tích cực, thu hút nhiều hộ nông dân tham gia dự án. Từ những lớp tập huấn chuyển giao công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm, được sự vận động của CBKT chuyển giao, có hơn 20hộ được tham gia tập huấn đã chủ động mua lươn giống về nuôi thương phẩm ở huyện Tam Bình. Kết quả rất khả quan, với qui mô 560m2  bể lót bạt, dự kiến năng suất khoảng 8-9kg/m2, ước sẽ có gần 5 tấn lươn cho nhu cầu thực phẩm Tết từ các nông hộ này.
Dự án không những tạo điều kiện cho nông dân tham gia xây dựng mô hình sản xuất giống thuỷ đặc sản có giá trị cao để phát triển kinh tế gia đình mà còn lan tỏa, nhân rộng mô hình sang các địa bàn khác trong khu vực. Đến nay đã có rất nhiều đoàn với hàng trăm nông dân và cán bộ kỹ thuật ở các tỉnh Trà Vinh, Hậu Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Bà Rịa - Vũng tàu… đến tham quan học hỏi kinh nghiệm và ứng dụng..
Qua 2 năm thực hiện, dự án thật sự đã giúp cho nông dân vùng thực hiện dự án có khả năng  ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lươn giống và nuôi thương phẩm để tạo công ăn việc làm, gia tăng thu nhập, cải thiện đời sống gia đình góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn. Từ đây, khi ứng dụng phương pháp sinh sản bán nhân tạo được thực hiện  nhân rộng sẽ góp phần chủ động cung cấp con giống chất lượng, đồng đều cho người nuôi. Mặt khác, thành công của dự án này còn góp phần đa dạng hoá đối tượng nuôi, gia tăng giá trị sản xuất trên 1 đơn vị diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt là với những hộ gia đình sản xuất với qui mô nhỏ ở những vùng thí điểm xây dựng nông thôn mới.Với kết quả thực tiễn trên, rõ ràng hiệu quả sản xuất các mô hình nuôi lươn thương phẩm đã được nâng lên từ việc sử dụng con giống được sinh sản bán nhân tạo so với trước đây sử dụng giống tự nhiên được đánh bắt với nhiều hình thức mang tính hủy diệt (với nhiều kích cỡ khác nhau nên hiệu quả nuôi thường thấp do hao hụt cao từ  bệnh).
Không những mang lại hiệu quả kinh tế cho nghề nuôi thủy sản mà dự án còn thể hiện hiệu quả xã hội rất đáng ghi nhận như (1) Việc xác lập quy trình công nghệ sản xuất và nuôi thương phẩm sẽ thúc đẩy công tác sản xuất giống chủ động cung cấp cho người nuôi, tăng nhanh sản lượng nuôi trồng thuỷ sản, giảm việc khai thác giống quá mức, góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản tự  nhiên; (2) Nâng cao nhận thức về sản xuất hàng hoá và trình độ kỹ thuật của nông dân tham gia dự án thông qua hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật; tạo việc làm cho nông dân trong thời gian nông nhàn góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản tự nhiên trong vùng dự án thông qua hoạt động sản xuất và nuôi giữ thuỷ đặc sản; (3) Tạo sản phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng; (4)  Tạo cơ sở hình thành làng nghề sản xuất thủy đặc sản,  tạo bước chuyển biến trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp góp phần phát triển NTTS thành kinh tế mũi nhọn của tỉnh nhà đồng thời góp phần xây dựng  nông thôn mới.
Đến cuối năm 2013 dự án đã hoàn thành tất cả các nội dung và mục tiêu đã được phê duyệt. Hiệu quả bước đầu của dự án rất khả quan và tính xác thực cũng đã được Đoàn kiểm tra của Ban Kinh tế ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh khảo sát. Điều đáng phấn khởi hơn là sức lan tỏa của dự án, đến nay đã có hơn 150 bảng đăng ký của nông dân từ các huyện Tam Bình, Long Hồ, Mang Thít…gửi đến Chi cục Thủy sản đề nghị xin được hỗ trợ đầu tư thực hiện các mô hình trên. Vì vậy, việc tiếp tục nhân rộng mô hình hỗ trợ đầu tư chuyển giao quy trình sản xuất giống bằng phương pháp sinh sản bán nhân tạo và phát triển các mô hình nuôi lươn thương phẩm sử dụng con giống sinh sản bán nhân tạo rất cần được các ngành, các cấp quan tâm nhằm góp phần thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh nhà để giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn, đặc biệt là nông dân ở các xã điểm xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét