PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT GIỐNG LƯƠN ĐỒNG – HIỆU
QUẢ TỪ MỘT DỰ ÁN
ThS. Phạm Thi Thu Hồng – CCTS
Lươn là loài
thủy đặc sản được thị trường trong và ngoài nước rất ưa chuộng do phẩm chất
thịt thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao.Thế nhưng, do khai thác bừa bãi và
không có ý thức bảo vệ, tái tạo nguồn lợi nên nguồn lươn từ tự nhiên bị suy
giảm nhanh chóng. Vì thế, trong những năm gần đây nông dân Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) rất chú ý đến
nghề nuôi lươn để đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho người
tiêu dùng.Tuy nhiên, trở ngại lớn
nhất trong thời gian qua là vẫn chưa sản xuất được lươn giống nhân tạo thành
công, lươn giống của mô hình nuôi thường được mua lại từ khai thác trong tự
nhiên, nguồn giống vẫn chưa được thuần hóa nên hiệu quả nuôi rất thấp.Để có đủ lươn nuôi người dân phải thu gom
từ nhiều nguồn, vận chuyển tốn kém, lươn bị trầy xước, chất lượng không ổn định
(do bị xuyệt điện, mồi thuốc,
bắt tay.. làm lươn tuột nhớt, gãy xương sống…). Trong khi đó, giống là yếu tố
rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của mô hình nuôi nên kết quả
sản xuất của đại đa số các cơ sở ở ĐBSCL nói chung và Vĩnh Long noí riêng trong
thời gian qua đều không cao và ổn định, tỉ lệ lệ hao hụt từ 40 – 90%, thậm chí
có mô hình hao hụt hoàn toàn.
Ở Vĩnh Long, trước 2012, các mô hình nuôi
cũng đã hình thành ở các huyện Tam Bình, Bình Minh, Bình Tân, Mang Thít và rãi
rác ở các huyện khác. Tuy nhiên, các hộ nuôi lươn trước đây đã ngưng sản xuất
do không có giống đảm bảo số và chất lượng. Điển hình như ở huyện Tam Bình,
những năm trước có khoảng 150 hộ nuôi nay chỉ còn khoảng 45-50 hộ nuôi; huyện
Bình Tân hiện còn khoảng 45 hộ nuôi chiếm 30% so trước đó, các hộ nuôi đều có
qui mô nhỏ, hộ gia đình. Đặc biệt ở Tam Bình có 01 hộ sản xuất lươn giống tự
phát qui mô khoảng 500m2 đã cho đẻ được, nhưng tỷ lệ ương lên giống rất thấp, không đạt hiệu quả
sản xuất. Hiện nay, nhu cầu lươn giống
không đáp ứng được cho bà con phát triển nuôi với qui mô lớn hơn, thường
người nuôi mua giống từ nguồn giống tự nhiên nên tỷ lệ hao hụt nhiều do lươn bị
ủ thuốc hoặc khai thác từ nguồn điện. Người nuôi không chọn được lươn giống
chất lượng tốt, nuôi khoảng 7 ngày lươn bắt đầu chết và có thể chết hết đến
ngày thứ 15. Lươn giống nhân tạo hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu của người nuôi.
Đây là tồn tại rất lớn trong sản xuất mà người nuôi chưa thể khắc phục để phát
triển nếu không có sự hỗ trợ của các cơ quan chuyên môn nhất là các nhà khoa
học.Và đây cũng là nguyện vọng thiết tha và chính đáng của nông dân có tâm
huyết với nghề.
Với thực trạng trên, để đáp ứng cho nhu cầu phát
triển nuôi đối tượng này Chi cục thủy sản Vĩnh Long thực hiện dự án ”Chuyển giao kỹ thuật sản xuất giống và nuôi
thương phẩm lươn đồng bằng phương pháp sinh sản bán nhân tạo giai đoạn
2011-2013” với mục tiêu chung (1)
Phát triển và chuyển giao qui trình kỹ thuật sản xuất giống bằng phương pháp
bán nhân tạo và nuôi lươn thương phẩm cho người sản xuất để chủ động
sản xuất con giống cung cấp cho người nuôi nhằm đa dạng hóa đối tượng nuôi thủy
sản, góp phần phát triển sản xuất hiệu quả và bền vững; và (2) Đào tạo và huấn luyện
nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật đáp ứng nhu cầu sản xuất, tạo khả năng phát
triển sâu rộng đối tượng thuỷ đặc sản có giá trị kinh tế cao trong nông nghiệp, tạo thêm việc
làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho nông dân, góp phần thực hiện thắng lợi
Chương trình hành động số 23-CTr/TU của Tỉnh Ủy và Đề án “Nông nghiệp, nông dân
và nông thôn” của UBND tỉnh.
Được Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long chính thức phê
duyệt tại Quyết định số 2460/QĐ-UBND ngày 27/12/2011 với thời gian thực hiện 03
năm , nhưng với sự nổ lực quyết tâm thật cao của của chủ đầu tư và sự hưởng ứng
rất tích cực của người dân trong vùng dự án nên dự án đã về đích sớm hơn nhiều
so với dự kiến (gần 20 tháng).
Từ kết quả của đầu năm 2012, sau khi
xác lập qui trình sản xuất giống lươn đồng bằng phương pháp sinh sản bán nhân
tạo, Chi cục Thủy sản đã chuyển giao kỹ thuật và nhân rộng mô hình sản xuất
giống lươn bằng phương pháp sinh sản bán nhân tạo cho 04 hộ nông dân ở xã Mỹ
Thạnh Trung, xã Mỹ Lộc, huyện Tam Bình – tỉnh Vĩnh Long với tổng diện tích bể
lót bạt 96 m2 (24 m2/mô hình). Kết quả thật đáng phấn
khởi với số lươn giống thu được từ 2
mô hình đầu tư sản xuất giống năm 2012 là 32.822 con giống cỡ 3-5gam/con, đạt
212% so với chỉ tiêu dự án mang
lại lợi nhuận bình quân 997.000đ/m2 bể. Đến năm
2013, với kinh nghiệm đã có, kết quả chuyển giao cho dân được nâng lên rõ rệt
từ 02 mô hình tiếp theo đã thu được 36.979 con lươn giống với cỡ 3 - 5g/con,
đạt 264% chỉ tiêu kế hoạch, trừ hết chi phí đầu tư nông hộ có lời bình quân
1.150.000đ/m2 bể. Với mô hình sản xuất giống này, với qui mô 24m2, sau 10 tháng người nuôi có
lợi nhuận khá cao dao động từ 9.741.000 - 40.952.000 đ/24m2/MH với
tỉ suất lợi nhuận từ 45,5- 129,8%.
Đối
với mô hình nuôi thương phẩm, hiệu quả sản xuất đã được nâng lên từ việc sử
dụng con giống được sinh sản bán nhân tạo so với trước đây sử dụng giống tự
nhiên được đánh bắt với nhiều hình thức mang tính hủy diệt và với nhiều kích cỡ
không đồng đều. Cụ thể với 24 mô hình được dự án hỗ trợ đầu tư nuôi thương
phẩm, con giống được cung cấp từ nguồn giống của các mô hình sản xuất giống
lươn bằng phương pháp sinh sản bán nhân tạo, sau 9 tháng nuôi, kết quả đạt tỉ
lệ sống trung bình (70,7%) cao hơn mô hình sử dụng giống tự nhiên không rõ
nguồn gốc (30 – 40%), kích cỡ lươn khi thu hoạch đồng đều, sản lượng từ 270kg -
336kg/ MH với năng suất đạt từ 6.5kg
- 8.4kg/ m2 nên lợi nhuận khá
cao, dao động từ 7.822.000 -
18.202.000đ/40m2/MH với tỉ suất lợi nhuận từ 34,7 - 82,3% . các mô
hình này đã cung ứng cho xã hội khoảng 7 tấn lươn thương phẩm đạt chất lượng
cao.
Bên
cạnh đó, dự án đã tổ chức đào tạo 100 kỹ thuật viên thành thạo kỹ thuật sinh
sản bán nhân tạo và ương lươn giống cho ngư dân trong tỉnh (huyện Tam Bình,
Long Hồ, Bình Tân). Sau đó các kỹ thuật viên này bằng nguồn vốn tự có đã tiến
hành nhân rộng mô hình sản xuất với 1.200m2 bể cung cấp hơn 316.000
con giống cho nhu cầu nuôi thương phẩm trong và ngoài tỉnh (Cần Thơ, Hậu Giang…).
Từ khi thực hiện đến nay, dự án đã thu hút đông
đảo bà con nông dân trong tỉnh hưởng ứng tích cực, thu hút nhiều hộ nông dân
tham gia dự án. Từ những lớp tập huấn chuyển giao công nghệ sản xuất giống và
nuôi thương phẩm, được sự vận động của CBKT chuyển giao, có hơn 20hộ được tham
gia tập huấn đã chủ động mua lươn giống về nuôi thương phẩm ở huyện Tam Bình.
Kết quả rất khả quan, với qui mô 560m2
bể lót bạt, dự kiến năng suất khoảng 8-9kg/m2,
ước sẽ có gần 5 tấn lươn cho nhu cầu thực phẩm Tết từ các nông hộ này.
Dự án không những tạo điều kiện cho nông dân tham
gia xây dựng mô hình sản xuất giống thuỷ đặc sản có giá trị cao để phát triển
kinh tế gia đình mà còn lan tỏa, nhân rộng mô hình sang các địa bàn khác trong
khu vực. Đến nay đã có rất nhiều đoàn với hàng trăm nông dân và cán bộ kỹ thuật
ở các tỉnh Trà Vinh, Hậu Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Bà Rịa - Vũng tàu… đến tham
quan học hỏi kinh nghiệm và ứng dụng..
Qua 2 năm thực hiện, dự án
thật sự đã giúp cho nông dân vùng thực hiện dự án có khả năng ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật trong sản
xuất lươn giống và nuôi thương phẩm để tạo công ăn việc làm, gia tăng thu nhập,
cải thiện đời sống gia đình góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn. Từ đây,
khi ứng dụng phương pháp sinh sản bán nhân tạo được thực hiện nhân rộng sẽ góp
phần chủ động cung cấp con giống chất lượng, đồng đều cho người nuôi. Mặt khác,
thành công của dự án này còn góp phần đa dạng hoá đối tượng nuôi, gia tăng giá
trị sản xuất trên 1 đơn vị diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt là với những hộ
gia đình sản xuất với qui mô nhỏ ở những vùng thí điểm xây dựng nông thôn mới.Với
kết quả thực tiễn trên, rõ ràng hiệu quả sản xuất các mô hình nuôi lươn thương
phẩm đã được nâng lên từ việc sử dụng con giống được sinh sản bán nhân tạo so
với trước đây sử dụng giống tự nhiên được đánh bắt với nhiều hình thức mang
tính hủy diệt (với nhiều kích cỡ khác nhau nên hiệu quả nuôi thường thấp do hao
hụt cao từ bệnh).
Không những mang lại hiệu quả
kinh tế cho nghề nuôi thủy sản mà dự án còn thể hiện hiệu quả xã hội rất đáng
ghi nhận như (1) Việc xác lập quy
trình công nghệ sản xuất và nuôi thương phẩm
sẽ thúc đẩy công tác sản xuất giống chủ động cung cấp cho người nuôi, tăng
nhanh sản lượng nuôi trồng thuỷ sản, giảm việc khai thác giống quá mức, góp phần
bảo vệ nguồn lợi thủy sản tự nhiên; (2) Nâng cao nhận thức về sản xuất hàng hoá và trình độ kỹ thuật của nông dân tham gia dự án thông qua hoạt động
chuyển giao tiến bộ kỹ thuật; tạo việc làm cho nông dân trong thời gian nông nhàn góp phần bảo vệ nguồn lợi
thủy sản tự nhiên trong vùng dự án thông qua hoạt động sản xuất và nuôi giữ
thuỷ đặc sản; (3) Tạo sản phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầu thị hiếu của
người tiêu dùng; (4) Tạo cơ sở hình
thành làng nghề sản xuất thủy đặc sản,
tạo bước chuyển biến trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp góp phần phát
triển NTTS thành kinh tế mũi nhọn của tỉnh nhà đồng thời góp phần xây dựng nông thôn mới.
Đến cuối năm 2013 dự án đã
hoàn thành tất cả các nội dung và mục tiêu đã được phê duyệt. Hiệu quả bước đầu
của dự án rất khả quan và tính xác thực cũng đã được Đoàn kiểm tra của Ban Kinh
tế ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh khảo sát. Điều đáng phấn khởi hơn là sức
lan tỏa của dự án, đến nay đã có hơn 150 bảng đăng ký của nông dân từ các huyện
Tam Bình, Long Hồ, Mang Thít…gửi đến Chi cục Thủy sản đề nghị xin được hỗ trợ
đầu tư thực hiện các mô hình trên. Vì vậy, việc tiếp tục nhân rộng mô hình hỗ trợ đầu tư chuyển giao quy trình sản
xuất giống bằng phương pháp sinh sản bán nhân tạo và phát triển các mô hình
nuôi lươn thương phẩm sử dụng con giống sinh sản bán nhân tạo rất cần
được các ngành, các cấp quan tâm nhằm
góp phần thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh nhà để giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập
cho lao động nông thôn, đặc biệt là nông dân ở các xã điểm xây dựng nông thôn
mới trong giai đoạn hiện nay.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét