KỸ THUẬT
CƠ BẢN SẢN XUẤT GIỐNG CÁ SẶC RẰN
ThS. Huỳnh Trấn Quốc - CLBKH Chi cục Thủy sản
Cá sặc rằn (hay cá sặc bổi) là loài thủy sản có chất lượng thịt rất ngon và
giá trị kinh tế cao. Ở nước ta, loài này phân bố chủ yếu ở khu vực Nam Bộ và sản
lượng khai thác trước đây khá cao, nhiều nhất ở các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau,
Sóc Trăng, Bạc Liêu…. Thế nhưng, hiện nay những vùng có sản lượng cá sặc rằn lớn
nhất đã không còn gặp nhiều loài này do việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật
nuôi cà do bị khai thác cạn kiệt. Nuôi cá sặc rằn đang là một nhu cầu cấp bách để
cung cấp nguồn thực phẩm chất lượng cho thị trường, chủ yếu được dùng để làm
khô “cá lò tho” như ở xã Khánh An – An Phú tỉnh An Giang có hẳn một làng nghề
chế biến rất phát triển. Hiện nay, cá sặc rằn không chỉ tiêu thụ nội địa mà còn
được xuất khẩu sang một số thị trường khác trên thế giới ở dạng cá khô. So với
các loài thủy sản khác, cá sặc rằn tăng trưởng tương đối chậm nhưng với đặc điểm
tương đối dễ tính trong lựa chọn thức ăn nên có thể nuôi cá sặc rằn trong các
mô hình khác nhau và cũng mang lại thu nhập khá cao cho nông hộ. Tuy nhiên, với
đặc điểm tỉ lệ hao hụt rất cao khi vận chuyển lúc cá còn nhỏ nên việc chủ động
sản xuất con giống tại chỗ để phục vụ cho nghề nuôi là biện pháp kỹ thuật để
nâng cao hiệu quả sản xuất rất cần được quan tâm.
1.
Đặc điểm sinh học:
Cá sặc rằn (Trichogaster pectoralis) có phân bố tự nhiên ở Thái Lan, Campuchia
và miền Nam Việt Nam.
Đây là loài thủy sản nước ngọt và có thể được tìm thấy ở hầu hết các loại hình
thủy vực như: sông, hồ, kinh, rạch, ruộng lúa, mương vườn… tuy nhiên, cá sặc rằn
thích vùng nước nông, nơi có nhiều thức ăn tự nhiên. Cá có thể sống được trong
môi trường nước lợ (độ mặn 5 - 7‰) và chịu được pH < 4,5, nhiệt độ thích hợp
cho tăng trưởng của cá là 25 - 35oC. Cá sặc rằn là loài có tốc độ
tăng trưởng tương đối chậm, cá chỉ đạt trọng lượng khoảng 50 - 80 g/con sau 1
năm thả nuôi, cá trưởng thành khi đạt kích thước từ 7,9 - 17,3 cm. Do cá có cơ
quan hô hấp phụ nằm trên cung mang nên có thể chịu được trong môi trường nước
có nồng độ oxy hòa tan thấp. Đây là loài thủy sản có phổ thức ăn tương đối rộng
nhưng thức ăn chính là mùn bã hữu cơ, sinh vật phù du và mầm cây cỏ; ngoài ra
cá sặc rằn còn có thể sử dụng tốt thức ăn công nghiệp, cám và bột cá. Khi cá
còn nhỏ thì khó phân biệt đực cái nhưng khi trưởng thành thì có thể dễ dàng nhận
biết cá đực và cái qua hình dáng bên ngoài. Mùa sinh sản tự nhiên của cá là từ
tháng 5 - 8, cá thường đẻ vào ban đêm sau những trận mưa rào và nơi đẻ của
chúng là những bụi cây cỏ thủy sinh ven bờ, nơi có mực nước nông nhiều cỏ rác.
Cá đực và cái sẽ bắt cặp và làm tổ, cá cái đẻ trứng trước cá đực sẽ theo sau thụ
tinh, sau đó cá đực gom trứng bằng miệng và phun trở lại vào tổ bọt, trứng sẽ nở
sau 20 giờ. Cá sặc rằn có sức sinh sản tương đối lớn khoảng 100.000 - 250.000
trứng/kg cá cái.
2.
Kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo và ương cá sặc rằn:
- Chọn cá bố mẹ: Vào đầu
mùa mưa, khi cá đã thành thục sinh dục có thể dễ dàng lựa chọn cá đực cái thông
qua độ dài của vi lưng và các sọc trên thân cá. Chọn cá bố mẹ khỏe mạnh, đồng đều,
không xây xát, dị tật, kích cỡ từ 70 - 100g/con. Cá đực: tia vi lưng kéo dài đến
gốc vi đuôi, trên thân có các sọc đen kéo dài từ lưng xuống bụng đậm màu, khi
vuốt nhẹ lỗ sinh dục thấy có một ít sẹ trắng chảy ra. Cá cái: tia vi lưng ngắn
không kéo dài đến gốc vi đuôi, các sọc trên thân không rõ rệt như cá đực, bụng
to mềm, lỗ sinh dục hơi lồi có màu hồng.
- Kích thích cho cá đẻ: Có thể
sử dụng các bể composite, bể nhựa, bể xi măng, lót bạt… thể tích 500L cho cá đẻ.
Trước khi bố trí cho cá đẻ cần phải rửa sạch bể chứa và lấy nước sạch vào, chiều
cao mực nước thích hợp cho cá đẻ là khoảng 40 cm. Mỗi bể sẽ thả 4 - 5 cặp cá bố
mẹ, tương ứng đặt vào bể 4 - 5 lá sen (lá môn) úp ngược trên mặt nước để cá làm
tổ. Ngoài ra, cũng có thể bố trí riêng từng cặp cá bố mẹ vào từng thau hoặc chậu
nhỏ và trong mỗi thau chậu cũng đặt 1 lá sen (lá môn) úp ngược. Sử dụng kích dục
tố HCG và não thùy cá chép để tiêm kích thích cho cá đẻ đồng loạt (5000 UI + 2
não thùy thể/kg cá cái, cá đực tiêm bằng 1/3 liều cá cái). Vị trí tiêm là cơ
lưng hoặc gốc vi ngực của cá và kim tiêm đặt nghiêng 1 góc 45o so với
thân cá, sau khi tiêm xong thì bố trí cá vào bể đẻ. Cá sẽ đẻ trứng sau 15 - 20
giờ, chờ cá đẻ xong vớt toàn bộ trứng ra chuyển sang bể khác để ấp.
- Ấp trứng: Rửa sạch
bể ấp, lấy nước vào với chiều sâu mực nước khoảng 40 - 60 cm, nước phải được lọc
kỹ và khử trùng bằng thuốc tím (3 g/m3) trước đó 2 - 3 ngày. Trong
suốt quá trình ấp trứng phải sục khí liên tục và sau khoảng 22 - 24 giờ thì trứng
sẽ nở thành cá bột. Sau khi cá nở 48 giờ thì chuyển cá bột xuống ương trong ao
đất.
- Ương cá giống: Ao thả
cá bột cũng phải cải tạo, diệt tạp và lọc kỹ khi lấy nước vào, mật độ thả là
400 - 600 cá bột/m2, thả cá vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Thức ăn
(cho 100.000 cá bột/ngày): a) 10 ngày đầu tiên: 3 lòng đỏ trứng + 300 g bột đậu
nành, có thể để sống hoặc nấu chín hòa với nước tạt đều khắp ao, cho ăn 3 - 4 lần/ngày;
b) Ngày thứ 11 - 20: 300 g bột đậu nành + 300 g cám + 300 g bột cá, trộn đều
hòa với nước tạt đều khắp ao, cho ăn 2 - 3 lần/ngày; c) Ngày thứ 21 - 30: 600 g
cám mịn + 600 g bột cá, trộn và rải đều khắp ao, cho ăn 2 - 3 lần/ngày; d)
Tháng thứ 2: 50% cám mịn + 50% bột cá, trộn và rải đều khắp ao, cho ăn từ 12 -
15% trọng lượng thân/ngày. Trong quá trình ương, phải thường xuyên theo dõi môi
trường nước ao, nếu thấy nước có mùi hôi hoặc màu xanh đậm phải thay nước ngay,
mỗi lần thay từ 20 - 30% lượng nước ao. Sau khi ương 2 tháng, cá đạt kích cỡ
500 - 600 con/kg, lúc này đã có thể thu hoạch cá giống để bán hoặc chuyển sang
nuôi thương phẩm. Trước khi thu hoạch cá 1 tuần, hàng ngày phải luyện cá bằng
cách khuấy bùn làm đục nước ao để hạn chế hao hụt khi thu hoạch. Dùng lưới có
kích thước mắt lưới nhỏ để kéo cá tránh cá bị xây xát và khi thu hoạch phải
thao tát nhanh, nhẹ nhàng tránh làm cá mệt sẽ bị hao hụt nhiều khi vận chuyển.
Do
cá con rất nhạy cảm với môi trường nên giai đoạn cá giống khâu vận chuyển rất
quan trọng. Nên đóng cá thưa để tránh xây xát, mất nhớt và nên vận chuyển lúc
sáng sớm hoặc chiều mát. Phương pháp vận chuyển tốt nhất là chứa cá trong bao
nylon với 1/3 lượng nước, 2/3 lượng khí Oxy. Mật độ vận chuyển cá là 700con/1
bao có kích thước 60 x 100cm. Sử dụng muối 3-5% sát khuẩn dụng cụ vận chuyển và
tắm cá trong 2-3 phút để hạn chế cá nhiễm khuẩn. Khi vận chuyển cá giống về
nuôi, không vội thả ngay xuống ao, nên ngâm bao cá trong ao nuôi khoảng 10 – 15
phút. Sau đó, mở bao cho nước từ ngoài vào bọc để cá quen dần với nhiệt độ
trong môi trường nuôi rồi mới thả cá ra.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét