25/12/13



KỸ THUẬT CƠ BẢN SẢN XUẤT GIỐNG CÁ SẶC RẰN
ThS. Huỳnh Trấn Quốc - CLBKH Chi cục Thủy sản
Cá sặc rằn (hay cá sặc bổi) là loài thủy sản có chất lượng thịt rất ngon và giá trị kinh tế cao. Ở nước ta, loài này phân bố chủ yếu ở khu vực Nam Bộ và sản lượng khai thác trước đây khá cao, nhiều nhất ở các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu…. Thế nhưng, hiện nay những vùng có sản lượng cá sặc rằn lớn nhất đã không còn gặp nhiều loài này do việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi cà do bị khai thác cạn kiệt. Nuôi cá sặc rằn đang là một nhu cầu cấp bách để cung cấp nguồn thực phẩm chất lượng cho thị trường, chủ yếu được dùng để làm khô “cá lò tho” như ở xã Khánh An – An Phú tỉnh An Giang có hẳn một làng nghề chế biến rất phát triển. Hiện nay, cá sặc rằn không chỉ tiêu thụ nội địa mà còn được xuất khẩu sang một số thị trường khác trên thế giới ở dạng cá khô. So với các loài thủy sản khác, cá sặc rằn tăng trưởng tương đối chậm nhưng với đặc điểm tương đối dễ tính trong lựa chọn thức ăn nên có thể nuôi cá sặc rằn trong các mô hình khác nhau và cũng mang lại thu nhập khá cao cho nông hộ. Tuy nhiên, với đặc điểm tỉ lệ hao hụt rất cao khi vận chuyển lúc cá còn nhỏ nên việc chủ động sản xuất con giống tại chỗ để phục vụ cho nghề nuôi là biện pháp kỹ thuật để nâng cao hiệu quả sản xuất rất cần được quan tâm.
1. Đặc điểm sinh học:
Cá sặc rằn (Trichogaster pectoralis) có phân bố tự nhiên ở Thái Lan, Campuchia và miền Nam Việt Nam. Đây là loài thủy sản nước ngọt và có thể được tìm thấy ở hầu hết các loại hình thủy vực như: sông, hồ, kinh, rạch, ruộng lúa, mương vườn… tuy nhiên, cá sặc rằn thích vùng nước nông, nơi có nhiều thức ăn tự nhiên. Cá có thể sống được trong môi trường nước lợ (độ mặn 5 - 7‰) và chịu được pH < 4,5, nhiệt độ thích hợp cho tăng trưởng của cá là 25 - 35oC. Cá sặc rằn là loài có tốc độ tăng trưởng tương đối chậm, cá chỉ đạt trọng lượng khoảng 50 - 80 g/con sau 1 năm thả nuôi, cá trưởng thành khi đạt kích thước từ 7,9 - 17,3 cm. Do cá có cơ quan hô hấp phụ nằm trên cung mang nên có thể chịu được trong môi trường nước có nồng độ oxy hòa tan thấp. Đây là loài thủy sản có phổ thức ăn tương đối rộng nhưng thức ăn chính là mùn bã hữu cơ, sinh vật phù du và mầm cây cỏ; ngoài ra cá sặc rằn còn có thể sử dụng tốt thức ăn công nghiệp, cám và bột cá. Khi cá còn nhỏ thì khó phân biệt đực cái nhưng khi trưởng thành thì có thể dễ dàng nhận biết cá đực và cái qua hình dáng bên ngoài. Mùa sinh sản tự nhiên của cá là từ tháng 5 - 8, cá thường đẻ vào ban đêm sau những trận mưa rào và nơi đẻ của chúng là những bụi cây cỏ thủy sinh ven bờ, nơi có mực nước nông nhiều cỏ rác. Cá đực và cái sẽ bắt cặp và làm tổ, cá cái đẻ trứng trước cá đực sẽ theo sau thụ tinh, sau đó cá đực gom trứng bằng miệng và phun trở lại vào tổ bọt, trứng sẽ nở sau 20 giờ. Cá sặc rằn có sức sinh sản tương đối lớn khoảng 100.000 - 250.000 trứng/kg cá cái.
2. Kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo và ương cá sặc rằn:
- Chọn cá bố mẹ: Vào đầu mùa mưa, khi cá đã thành thục sinh dục có thể dễ dàng lựa chọn cá đực cái thông qua độ dài của vi lưng và các sọc trên thân cá. Chọn cá bố mẹ khỏe mạnh, đồng đều, không xây xát, dị tật, kích cỡ từ 70 - 100g/con. Cá đực: tia vi lưng kéo dài đến gốc vi đuôi, trên thân có các sọc đen kéo dài từ lưng xuống bụng đậm màu, khi vuốt nhẹ lỗ sinh dục thấy có một ít sẹ trắng chảy ra. Cá cái: tia vi lưng ngắn không kéo dài đến gốc vi đuôi, các sọc trên thân không rõ rệt như cá đực, bụng to mềm, lỗ sinh dục hơi lồi có màu hồng.
- Kích thích cho cá đẻ: Có thể sử dụng các bể composite, bể nhựa, bể xi măng, lót bạt… thể tích 500L cho cá đẻ. Trước khi bố trí cho cá đẻ cần phải rửa sạch bể chứa và lấy nước sạch vào, chiều cao mực nước thích hợp cho cá đẻ là khoảng 40 cm. Mỗi bể sẽ thả 4 - 5 cặp cá bố mẹ, tương ứng đặt vào bể 4 - 5 lá sen (lá môn) úp ngược trên mặt nước để cá làm tổ. Ngoài ra, cũng có thể bố trí riêng từng cặp cá bố mẹ vào từng thau hoặc chậu nhỏ và trong mỗi thau chậu cũng đặt 1 lá sen (lá môn) úp ngược. Sử dụng kích dục tố HCG và não thùy cá chép để tiêm kích thích cho cá đẻ đồng loạt (5000 UI + 2 não thùy thể/kg cá cái, cá đực tiêm bằng 1/3 liều cá cái). Vị trí tiêm là cơ lưng hoặc gốc vi ngực của cá và kim tiêm đặt nghiêng 1 góc 45o so với thân cá, sau khi tiêm xong thì bố trí cá vào bể đẻ. Cá sẽ đẻ trứng sau 15 - 20 giờ, chờ cá đẻ xong vớt toàn bộ trứng ra chuyển sang bể khác để ấp.
- Ấp trứng: Rửa sạch bể ấp, lấy nước vào với chiều sâu mực nước khoảng 40 - 60 cm, nước phải được lọc kỹ và khử trùng bằng thuốc tím (3 g/m3) trước đó 2 - 3 ngày. Trong suốt quá trình ấp trứng phải sục khí liên tục và sau khoảng 22 - 24 giờ thì trứng sẽ nở thành cá bột. Sau khi cá nở 48 giờ thì chuyển cá bột xuống ương trong ao đất.
- Ương cá giống: Ao thả cá bột cũng phải cải tạo, diệt tạp và lọc kỹ khi lấy nước vào, mật độ thả là 400 - 600 cá bột/m2, thả cá vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Thức ăn (cho 100.000 cá bột/ngày): a) 10 ngày đầu tiên: 3 lòng đỏ trứng + 300 g bột đậu nành, có thể để sống hoặc nấu chín hòa với nước tạt đều khắp ao, cho ăn 3 - 4 lần/ngày; b) Ngày thứ 11 - 20: 300 g bột đậu nành + 300 g cám + 300 g bột cá, trộn đều hòa với nước tạt đều khắp ao, cho ăn 2 - 3 lần/ngày; c) Ngày thứ 21 - 30: 600 g cám mịn + 600 g bột cá, trộn và rải đều khắp ao, cho ăn 2 - 3 lần/ngày; d) Tháng thứ 2: 50% cám mịn + 50% bột cá, trộn và rải đều khắp ao, cho ăn từ 12 - 15% trọng lượng thân/ngày. Trong quá trình ương, phải thường xuyên theo dõi môi trường nước ao, nếu thấy nước có mùi hôi hoặc màu xanh đậm phải thay nước ngay, mỗi lần thay từ 20 - 30% lượng nước ao. Sau khi ương 2 tháng, cá đạt kích cỡ 500 - 600 con/kg, lúc này đã có thể thu hoạch cá giống để bán hoặc chuyển sang nuôi thương phẩm. Trước khi thu hoạch cá 1 tuần, hàng ngày phải luyện cá bằng cách khuấy bùn làm đục nước ao để hạn chế hao hụt khi thu hoạch. Dùng lưới có kích thước mắt lưới nhỏ để kéo cá tránh cá bị xây xát và khi thu hoạch phải thao tát nhanh, nhẹ nhàng tránh làm cá mệt sẽ bị hao hụt nhiều khi vận chuyển.


Do cá con rất nhạy cảm với môi trường nên giai đoạn cá giống khâu vận chuyển rất quan trọng. Nên đóng cá thưa để tránh xây xát, mất nhớt và nên vận chuyển lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Phương pháp vận chuyển tốt nhất là chứa cá trong bao nylon với 1/3 lượng nước, 2/3 lượng khí Oxy. Mật độ vận chuyển cá là 700con/1 bao có kích thước 60 x 100cm. Sử dụng muối 3-5% sát khuẩn dụng cụ vận chuyển và tắm cá trong 2-3 phút để hạn chế cá nhiễm khuẩn. Khi vận chuyển cá giống về nuôi, không vội thả ngay xuống ao, nên ngâm bao cá trong ao nuôi khoảng 10 – 15 phút. Sau đó, mở bao cho nước từ ngoài vào bọc để cá quen dần với nhiệt độ trong môi trường nuôi rồi mới thả cá ra.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét