PHÁT TRIỂN THỦY
SẢN VĨNH LONG NĂM 2013
Một năm đầy nổ lực
ThS.Phạm Thị Thu Hồng – Chi cục trưởng CCTS
Năm 2013, tổng
sản lượng thủy sản của tỉnh là 132.720
tấn, chỉ đạt 92,5% kế
hoạch (KH) năm và giá trị sản xuất thủy sản là 2.587.307 triệu đồng, đạt 97.27% KH. Đây là lần đầu tiên trong quá trình phát triển thủy sản của tỉnh không
đạt kế hoạch đề ra của năm sau thời gian dài tăng trưởng liên tục. Tuy
chỉ chiếm 13,64% tổng giá tri sản xuất (GTSX) nông nghiệp tòan tỉnh, tỉ lệ cơ
cấu của lĩnh vực thủy sản đã là 14,8%
(tăng 0,8% so KH năm), nhưng đó
lại là kết quả những nổ lực hết mình của toàn thể các đối tượng hoạt động trong
lĩnh vực thủy sản bao gồm cả sản xuất và quản lý, đặc biệt là sự quan tâm rất
lớn của UBND tỉnh. Thành quả ấy còn thể hiện sự chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo Sở
Nông nghiệp & PTNT trong một năm phát triển đầy gian khó.
Từ vô vàn khó khăn
Liên tục 2 năm
gần đây được đánh giá là khó khăn nhất từ trước đến nay đối với NTTS nước ngọt ở
đồng bằng sông Cửu Long nói chung và sản xuất, tiêu thụ cá tra nói riêng, mà
đỉnh điểm là năm 2013, không những người nuôi mà cả những doanh nghiệp đều lâm
vào cảnh liên tục thua lỗ, thậm chí phá sản. Hệ lụy đã ảnh hưởng không nhỏ đến
tốc độ tăng trưởng của ngành, tác động rất lớn đến đời sống kinh tế của người
dân tham gia sản xuất. Khó khăn và tồn tại chủ yếu là: (1) Thiếu vốn để sản
xuất: để phát triển sản xuất người nuôi cá tra rất cần nguồn vốn vay
cũng như các doanh nghiệp chế biến rất cần nguồn vốn để thu mua nguyên liệu
cung ứng cho chế biến xuất khẩu. Tuy nhiên, trong năm 2013 mặc dù lãi suất cho
vay sản xuất nông nghiệp đã liên tục giảm về mức hợp lý so với 2 năm trước
nhưng đối tượng có nhu cầu vay lại rất khó tiếp cận các nguồn vốn vay từ ngân
hàng với lãi suất ưu đãi theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; (2) Chi phí đầu vào
tăng cao: giá thức ăn, hóa chất, thuốc thú y thủy sản tăng cao, chất
lượng khó kiểm soát, làm tăng chi phí sản xuất, tăng giá thành nguyên liệu
trong khi giá thu mua nguyên liệu phục vụ chế biến lại ổn định với mức thấp hơn
giá thành sản xuất trong thời gian dài làm cho người nuôi không còn đủ sức để
duy trì hoặc tái đầu tư khi lỗ từ 1000- 3.000đồng/kg cá tra! (3) Tiêu thụ bất ổn,
liên kết sản xuất lỏng lẻo: giá cá nguyên liệu không ổn định, vẫn còn
tình trạng các doanh nghiệp xuất khẩu chào bán phá giá lẫn nhau (để dành hợp
đồng), cạnh tranh không lành mạnh; sản phẩm chế biến xuất khẩu đa phần là sản
phẩm thô, tỷ lệ hàng gía trị gia tăng rất thấp, chất lượng không đồng nhất,
thậm chí có nhà máy đông lạnh mạ băng sản phảm với tỉ lệ không hợp lý. Mặt
khác, mối liên kết các thành phần trong chuỗi sản xuất còn lỏng lẽo, lợi ích
các bên không hài hòa, thường xuyên bị phá vỡ càng làm trầm trọng thêm tình
trạng mất cân đối cung cầu, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Giá cả
bấp bênh, người trực tiếp làm ra sản
phẩm nhưng lại không có quyền định đoạt giá trị mình làm ra!; (4) Thông tin hạn chế và
dự báo thị trường yếu: Người nuôi thiếu thông tin minh bạch về thị
trường, thống kê và dự báo trong sản xuất và tiêu thụ cá tra còn hạn chế nên
sản xuất chưa thực sự gắn với thị trường nên tính chủ động trong sản xuất kém,
cung và cầu luôn có các pha lệch nhau.
Đến những kết quả
đáng ghi nhận
Năm
2013, tuy một số chỉ tiêu lĩnh vực thủy sản đóng góp cho ngành Nông nghiệp không
đạt theo kế hoạch nhưng với sự quan tâm của Chính phủ, của các cơ quan trung
ương, sự chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các cơ quan ban ngành tỉnh,
sự nổ lực của bà con nông ngư dân, các doanh nghiệp … nên sản xuất và tiêu thụ
thủy sản trong năm 2013 cũng đạt được kết quả đáng ghi nhận: tổng diện tích
nuôi thủy sản chuyên canh toàn tỉnh là 2.554 ha, đạt 100,2% kế hoạch, tăng 2%
(94ha) so với năm 2012, với sản lượng 125.605,8 tấn đạt 92.4 % so KH năm 2013 giảm 6,1% so với năm 2012
(do giảm sản lượng cá tra). Năm qua, do muôn vàn khó khăn nên diện tích mặt nước nuôi cá tra
công nghiệp chỉ đạt 423,17 ha, chỉ đạt
94% kế hoạch năm (450 ha), tăng nhẹ 0,14% (0,61 ha) so với cùng kỳ năm
2012 nhưng sản lượng thì giảm đáng kể, chỉ đạt 101.331,9 tấn (83,7% kế
hoạch năm), giảm 9,4% hay
giảm 10.509 tấn so với năm 2012; nuôi ao và mương vườn 2.005 ha, nuôi ruộng lúa 99,1 ha,
nuôi khác 11,87 ha với sản
lượng 12,693.9 tấn đạt 253.9% so KH năm. Bên cạnh đối
tượng chủ lực cá tra, hình thức nuôi thâm canh trong lồng bè vẫn duy trì với 685 chiếc, đạt 105,4% kế hoạch năm (650
chiếc) với 9,825.0 tấn, tuy chỉ đạt 98.3% so KH năm 2013 nhưng đã tăng 6,4 %
hay 589,3 tấn so với năm 2012.
Trong điều kiện sản xuất hết sức khó khăn
nhưng các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế ngày càng được gia tăng như cá lăng
nha, lươn, ếch, ba ba, rắn ri voi, cá thát lát, cá trê, tôm càng xanh …được
nuôi thử nghiệm trên các loại hình, các qui mô khác nhau thông qua các dự án sự
nghiệp nông nghiệp, các mô hình khuyến ngư, chỉ với 14,86 ha nhưng đã cung ứng
ra thị trường 1.755,0 tấn sản phẩm. Đây chính là điểm nổi bật của lĩnh vực phát
triển thủy sản của tỉnh theo hướng chuyển dịch cơ cấu và đa dạng hóa các đối
tượng nuôi để gia tăng lợi nhuận/1 đơnvị diện tích sản xuất.Với sự hỗ trợ của
Chi cục thủy sản, Trung tâm khuyến nông, nông ngư dân đã được hướng dẫn áp dụng
những tiến bộ kỹ thuật, những qui trình kỹ thuật mới để có cơ sở đánh giá, lựa
chọn các mô hình nuôi thích hợp với điều kiện sinh thái, tự nhiên, tập quán sản
xuất của nông hộ, phù hợp với nhu cầu thị trường, thị hiếu tiêu dùng nên đã góp
phần đáng kể nâng cao thu nhập của nông dân trong sự nghiệp xây dựng nông thôn
mới. Nổi bật nhất là Chi cục Thủy sản đã chuyển giao kỹ thuật và nhân rộng mô
hình sản xuất giống lươn bằng phương pháp sinh sản bán nhân tạo thành công cho
hơn 100 nông dân trong tỉnh. Với mô hình này, trừ hết chi phí đầu tư nông hộ có
lời bình quân 1.150.000đ/m2 bể. Với mô hình sản xuất giống này, với
qui mô 24m2, sau 10 tháng
người nuôi có lợi nhuận khá cao dao động từ 9.741.000 - 40.952.000 đ/24m2/MH
với tỉ suất lợi nhuận từ 45,5- 129,8%. Đối với mô hình nuôi thương phẩm, hiệu
quả sản xuất đã được nâng lên từ việc sử dụng con giống được sinh sản bán nhân
tạo so với trước đây sử dụng giống tự nhiên được đánh bắt với nhiều hình thức
mang tính hủy diệt và với nhiều kích cỡ không đồng đều. Với mô hình sử dụng con
giống bằng phương pháp sinh sản bán nhân tạo, sau 9 tháng nuôi, kết quả đạt tỉ
lệ sống trung bình (70,7%) cao hơn mô hình sử dụng giống tự nhiên không rõ
nguồn gốc (30 – 40%), kích cỡ lươn khi thu hoạch đồng đều, sản lượng từ 270kg -
336kg/ MH với năng suất đạt từ 6.5kg
- 8.4kg/ m2 nên lợi nhuận khá
cao, dao động từ 7.822.000 -
18.202.000đ/40m2/MH với tỉ suất lợi nhuận từ 34,7 - 82,3% .
Bên cạnh kết quả trên, một số thành quả sản xuất
khác trong NTTS năm 2013 cũng thể hiện sự nổ lực không ngừng trong quá trình
phát triển của ngành như việc ứng dụng các hệ thống nuôi tiên tiến: hiện toàn
tỉnh có 6 cơ sở (69,1 ha) nuôi thương phẩm được chứng nhận Global GAP, 07 cơ sở
(6,6 ha) ứng dụng Thực hành quản lý tốt hơn -BMP, 2 cơ sở sản xuất giống cá tra
(12,5 ha) được chứng nhận Global GAP, 05 cơ sở thực hành và được đánh giá chứng
nhận VietGAP trong đó có Hợp tác xã Tân Phát (11 hộ nuôi). Ấn
tượng nhất là lần đầu tiên tỉnh ta có 04 cơ sở (trong đó có 03 do dự án sự
nghiệp nông nghiệp hỗ trợ) được đánh giá chứng nhận ASC – tiêu chuẩn quốc tế
đáp ứng chuẩn thương mại toàn cầu. Sự kiện này mở ra một bước ngoặt mới trong
chiến lược phát triển của ngành nói chung và ngành hàng cá tra nói riêng. Đạt
chứng nhận ASC là một bước tiến quan trọng trong việc sản xuất nguyên liệu cá
tra cung ứng cho chế biến xuất khẩu đảm bảo rằng sản phẩm cơ sở sản xuất luôn
đạt được mức độ chấp nhận về an toàn và chất lượng, quá trình sản xuất được chứng
minh là bền vững và có quan tâm đến vấn đề môi trường và những lợi ích của vật
nuôi. Sự kiện này là tín hiệu đáng mừng đối với ngành thủy sản của tỉnh Vĩnh
Long khi đang từng bước trên con đường phát triển và hội nhập với thị trường
thế giới nhất là các thị trường nhập khẩu khó tính (EU, Mỹ,..) . Đây là một
công cụ đắc lực góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, là xu
thế tất yếu đảm bảo để con cá tra đất chín Rồng nói chung và Vĩnh Long nói
riêng ngày càng nâng cao giá trị kinh tế, phát triển bền vững.
Và cần tái cơ cấu để gia tăng hiệu quả sản xuất và
phát triển bền vững
Trên lĩnh vực
thủy sản, giá trị sản phẩm (GTSP) trên một đơn vị diện tích (1 ha) có sự khác
biệt rất lớn giữa đất trồng trọt và đất nuôi trồng thủy sản. Giá trị sản xuất ngành thủy sản Vĩnh Long
đóng góp tỉ trọng khá lớn của ngành nông nghiệp, trong đó chủ yếu từ nuôi cá
tra xuất khẩu (chiếm hơn 90,0%). Giai đoạn 2005-2010 chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong nông nghiệp tiếp tục phát triển đúng hướng, thủy sản tuy gặp nhiều
khó khăn do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế, nhưng giá trị sản xuất của ngành
thủy sản vẫn tăng trưởng bình quân trên 30%, trong cơ cấu giá trị của ngành
nông-lâm-thủy sản, ngành thủy sản đã chiếm tỷ trọng gần 18%, tăng 8,68% so với
năm 2005. Trong 2 năm qua (2011- 2012), tăng trưởng hàng năm đều tăng, trong đó
năm 2012 giá trị sản xuất thủy sản là 2.713.484 triệu
đồng, tăng 7,24% so năm 2011. Với tình hình sản xuất ngành hàng các tra vô cùng khó
khăn từ cuối năm 2012 đến nay đã dẫn đến giá trị sản xuất giảm và không đạt chỉ tiêu kế hoạch của ngành
đề ra.
Thật
sự những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua chưa tương xứng với tiềm
năng, lợi thế phát triển thủy sản của tỉnh, đã bộc lộ kém bền vững, tốc độ tăng
trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, đầu tư cho thủy sản còn quá
ít không đáp ứng nhu cầu phát triển, nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công
nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp nói chung, thủy sản nói riêng còn
chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ phân tán; năng suất, chất lượng không ổn
định, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp. Do chiếm trên 90% sản lượng thủy sản của tỉnh nên sự phát triển không ổn định và bền vững của
ngành hàng cá tra trong thời gian gần đây đã tác động rất lớn đến tốc độ phát
triển của ngành, nếu không có bước đột phá trong sản xuất sẽ khó đảm bảo chỉ
tiêu phát triển chung của toàn ngành nông nghiệp. Vì thế, trước thực trạng sản
xuất hiện nay, việc thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh -
lĩnh vực thủy sản là trọng tâm - đến năm 2020 là vô cùng cấp thiết với các nội
dung: (1) Tái cơ cấu về chất lượng sản phẩm: Tập trung đầu tư NTTS theo hướng nuôi công nghiệp, áp dụng các quy trình
công nghệ cao, quy trình thực hành nuôi tốt (GAP) phù hợp quy chuẩn quốc tế như
VietGAP, GlobalGAP, ASC…(2) Tái cơ cấu đối tượng sản xuất: Đa dạng hóa các đối tượng và
hình thức nuôi cho phù hợp với từng vùng, từng địa phương, phát triển nuôi
trồng thủy sản theo hướng sản xuất hàng hóa. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến
những đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao (cá lóc, cá rô phi, các thát lát
cườm, cá chạch..), các loại thủy đặc sản (tôm càng xanh toàn đực, lươn, ếch, ba
ba…) và đối tượng có thị trường tiêu thụ ổn định; (3) Tái cơ cấu ngành hàng cá tra của tỉnh theo hướng ổn định diện
tích nuôi là 500ha đến năm 2015 và 700ha đến năm 2020. Tổ chức lại sản xuất
theo hướng gắn kết chặt chẽ và bảo đảm hài hoà lợi ích giữa các khâu nuôi, thu
mua, chế biến và xuất khẩu; (3) Tái cơ
cấu phương thức sản xuất: Phát triển kinh tế hợp tác, tổ chức sản xuất
theo mô hình quản lý cộng đồng với các hình thức tổ chức kinh tế tập thể Tổ hợp
tác, Hợp tác xã hoặc các hội nghề nghiệp để chia sẻ thông tin và huy động được
sự tham gia của cộng đồng, thúc đẩy quản lý sản xuất có hiệu quả; Huy động
nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển thủy sản với các hình thức
tổ chức sản xuất phù hợp theo hướng bền vững; phát huy tốt nội lực và tranh thủ
các nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài dưới mọi hình thức đầu tư; (4)Tái cơ cấu đầu tư phát triển: Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học -
công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ sạch, nâng cao chất lượng, giá
trị sản phẩm nuôi trồng, gia tăng hiệu quả trên đơn vị diện tích, gắn với bảo
vệ môi trường; tăng cường hỗ trợ đầu tư nghiên cứu khoa học công nghệ cao trong
NTTS, đẩy mạnh công tác chuyển giao ứng dụng các qui trình sản xuất giống, qui
trình nuôi đã nghiên cứu thành công các đối tượng có giá trị kinh tế.
Sắp
tới, với sự quan tâm đặc biệt của Tĩnh Ủy, sự chỉ đạo quyết liệt của Ủy ban
nhân dân tỉnh, với quyết tâm nổ lực cao của ngành NN nói chung và thủy sản nói
riêng đồng thời với sự vào cuộc cùng chung tay góp sức của toàn hệ thống chính
trị, của các ngành các cấp, các thành phần sản xuất trong tỉnh, chắc chắn rằng
năm 2014 sẽ là năm khởi sắc cho quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, trong
đó lĩnh vực thủy sản đóng vai trò quan trọng để đạt mục tiêu gia tăng hiệu quả
sản xuất và phát triển ổn định, bền vững. Lúc ấy, mùa Xuân ấm áp, đủ đầy sẽ lại
hiện hữu trong từng mái nhà nông ngư dân tỉnh Vĩnh Long như đã từng./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét