BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NUÔI CÁ CHÌNH THƯƠNG PHẨM
ThS.
Phạm Thị Thu Hồng- CHI CỤC THỦY SẢN
Cá
Chình là loài cá thịt ngon có giá trị dinh dưỡng cao, được xếp vào loại cá đắt tiền, quí hiếm,
rất được ưa chuộng. Những năm gần
đây nghề nuôi cá chình phát triển rất mạnh ở ĐBSCL để đáp ứng nhu cầu của thị
trường nội địa và xuất khẩu. Hiện nay cá chình được nuôi phổ biến trong ao đất,
nuôi trong lồng bè nhiều ở Bạc Liêu, Cà Mau và các tỉnh vùng nước ngọt như An
Giang, Đồng Tháp. Cá Chình có thể được nuôi trong
những ao nhỏ và vừa nên các hộ dân có thể tận dụng những ao, đìa xung quanh nhà
hoặc từ mô hình “Cải tạo vườn tạp” để phát triển nuôi loài cá này. Là đối tượng
nuôi mang lại hiệu quả, ít rủi ro với kết quả rất khả quan do giá cá thương phẩm
rất cao như loại1 (từ 2kg/con trở lên) với giá 350.000đ/kg, loại 2(dưới
2kg/con) giá 250.000đ/kg. Chúng tôi xin giới thiệu một số thông tin kỹ thuật về
đối tượng có nhiều triển vọng này.
* Môi
trường sống: Cá
chình phân bố nhiều từ Quảng Bình vào đến Phú Yên đặc biệt là vùng hồ Châu Trúc
ở Bình Ðịnh hằng năm cung cấp một lượng cá giống quí cho nhân dân các vùng để
nuôi.
Cá chình có khả năng thích ứng rộng, cá có thể sống được ở nước mặn, nước lợ,
nước ngọt. Cá thích bóng tối, sợ ánh sáng nên ban ngày chui rúc trong hang, dưới
đáy ao, nơi có ánh sáng yếu, tối bò ra kiếm mồi di chuyển đi nơi khác. Da và ruột
cá có khả năng hô hấp, dưới 15oC chỉ cần giữ cho da cá ẩm ướt là có
thể sống được khá lâu. Trời mưa cá hoạt động rất khoẻ, có thể bò trườn khắp ao.
- Cá chình là
loài cá có phạm vi thích ứng nhiệt rộng. Nhiệt độ từ 10 - 38oC cá đều
có thể sống được, nhưng trên 12oC cá mới bắt mồi. Nhiệt độ sinh trưởng
là 13 - 30oC, thích hợp nhất là 25 - 27oC. Hàm lượng ôxy
hoà tan trong nước yêu cầu phải trên 2mg/1, thích hợp cho sinh trưởng là 5 mg/l
, vượt quá 12 mg/l dễ sinh ra bệnh bọt khí.
* Tập
tính ăn và sinh trưởng: Cá chình là loại cá ăn tạp, trong tự
nhiên thức ăn của cá là tôm, cá con, động vật đáy nhỏ và côn trùng thuỷ sinh.
Khi còn nhỏ thức ăn chính của cá là động vật phù du nhóm Cladocera và giun ít
tơ.
- Cá sinh trưởng
chậm, nhất là cỡ từ 300g trở nên tốc độ sinh trưởng chỉ bằng 1/10 tốc độ sinh
trưởng của giai đoạn cá có trọng lượng 70 - 100g. Khi còn nhỏ tốc độ sinh trưởng
của cá trong đàn tương đương nhau, nhưng khi đạt chiều dài hơn 40 cm con đực lớn
chậm hơn con cái. Sau 18 tháng nuôi, cá đạt kích cỡ 1,5 – 2kg.
* Tập
tính sinh sản: Cá chình là loài cá di cư, cá mẹ đẻ ở biển sâu, cá
con sau khi nở trôi dạt vào bờ biển, cửa sông, vùng nước ngọt kiếm mồi và lớn
lên. Khi trưởng thành, cá lại di cư ra biển sâu để đẻ trứng. Cá con mới lớn có
hình lá liễu, sau 1 năm mới trôi dạt vào cửa sông. Trải qua nhiều biến thái
hình thành cá chình hương màu trắng, khi cá ngược dòng sắc tố đen tăng dần
thành màu đen.
*Thiết kế và xây dựng ao: Tùy theo điều kiện và khả năng thực tế sản
xuất của nông hộ mà bố trí ao nuôi cho phù hợp. Diện tích tốt nhất là khoảng
200-1000m2, nên bố trí ao nuôi dốc về phía cống thoát nước. Cần phải
có ao chứa nước dự phòng để tiện trong việc xử lý cấp nước khi cần thiết. Chọn
ao có bờ cao hơn mặt nước từ 60 cm trở lên và xung quanh ao phải rào lưới cao
50cm để tránh cá thoát ra ngoài, bờ ao không thẩm lậu, rò rỉ. Ðáy ao là cát
hoặc cát bùn, độ sâu từ 1,5 – 1,8m. Nên bố trí ống bọng bằng sành hoặc nhựa vào
trong ao để cá có chỗ cư trú.
* Chuẩn bị ao: Ao cần được
tát cạn, sên vét bùn đáy, rãi vôi CaCO3 (vôi công nghiệp) từ
7-10kg/100m2 tùy theo pH đất. Phơi đáy ao từ 5-7 ngày (đối với những
vùng đất có phèn tiềm tàng thì bà con nên phơi 2 ngày rồi cấp nước vào để tránh
hiện tượng xì phèn). Sau đó cấp nước vào đầy ao nuôi, lưu ý cần phải lọc để
nước đạt độ sâu 1,5-1,8m rồi xử lý ao bằng thuốc tím 2-4kg/1000m2.
Sau 2 ngày ta tiến hành gây màu nước để ổn định chất lượng nước trong ao, tạo
nên môi trường phù hợp với tập tính sống của cá như với các đối tượng khác. Cá
Chình thường không thích ánh sáng, nên đặt các vật như ống sành, ống nhựa hoặc
thả chà khô… để chúng trú ẩn.
* Chọn và thả giống; Đây là khâu rất quan trọng để giảm thiểu
rủi ro do giống kém chất lượng dẫn đến cá không ăn và hao hụt nhiều. Nên chọn
mua cá từ các cơ sở cung cấp giống uy tín. Cá giống khỏe, da bóng, nhiều nhớt,
không bệnh tật. Do nguồn giống chủ yếu được khai thác từ tự nhiên, người nuôi
cần lưu ý tránh mua cá đánh bắt bằng câu, xung điện …khi thả thì tỷ lệ hao hụt
sẽ rất cao. Trọng lượng cá thả từ 5 – 10con/kg là tốt nhất. Mật độ thả: từ
0.5-1con/m2. Nếu thả cá nhỏ hơn thì tăng mật độ lên. Khi cá được vận
chuyển đến nơi, thả túi nilon chứa cá xuống ao để nhiệt độ trong, ngoài túi
bằng nhau mới mở túi cho cá ra ngoài. Có thể dùng 1 trong 3 loại hoá chất để
tắm cho cá nhằm phòng ngừa bệnh: KMnO4 (thuốc tím):1 - 3 ppm; CuSO4: 0,3 -
0,5ppm; Formalin: 1 - 3 ppm hoặc ngâm cá trong dung dịch nước muối 15 - 30 %o
từ 15 - 30 phút.
Trong khâu quản lý và chăm sóc cá để nuôi
đạt hiệu quả cao người nuôi cần:
- Quan sát hằng ngày: Cá Chình là đối tương nuôi mới nên hằng
ngày phải thường xuyên theo dõi quá trình hoạt động của cá để có biện pháp xử
lý kip thời khi tình huống xấu xảy ra. Theo dõi thật kỹ từ cách cho ăn đến sự
biến đổi môi trường (đặc biệt pH, khí độc).
- Quản lý thức ăn: Thức ăn cho cá Chình bao gồm giun, ốc, cá tạp…cần băm nhỏ cho vừa cỡ miệng
cá. Để cá dễ ăn và tránh nhiễm bệnh ký sinh từ cá tạp, nên nhúng thức ăn qua
nước muối sau đó xả lại nước ngọt rồi đem cho cá ăn. Khi cá còn nhỏ, thức ăn
nên xay ra để cá dễ ăn. Đây là khâu rất quan trọng nên để nuôi đạt hiệu quả nên
cần lưu ý một vấn đề sau:
+ Thức ăn cần tươi, sạch (tránh mua thức ăn đã
qua ướp hóa chất). - Phải xác định vị trí đặt sàn hợp lý. - Phải canh thức ăn
không để quá dư: ở nhiệt độ nước khoảng 25oC; lượng thức ăn cho ăn
một ngày đêm từ 3 – 7% tổng trọng lượng cá trong ao. Nếu nhiệt độ thấp hơn 25o
C hoặc cao hơn 34oC thì phải giảm bớt lượng cho ăn trong ngày.
+ Thường lấy mức cá cho ăn trong 1 giờ làm chuẩn,
điều chỉnh lượng thức ăn sao cho cá ăn hết trong 1 giờ là vừa. Do cá lớn dần
nên cách 10 ngày phải tăng lượng thức ăn lên 1 lần. Tùy vào thời tiết, giai
đoạn cụ thể mà điều chỉnh thức ăn cho phù hợp. Sử dụng thức ăn tươi sống tránh
hôi thối, kém chất lượng kết hợp với VitaminC để tăng cường sức đề kháng cho
cá. Cá thường ăn mạnh vào nhũng ngày nắng tốt, có gió và giảm ăn vào những ngày
âm u có mưa, lặng gió.
+ Phải
cho ăn đúng giờ. Không nên thay đổi thức ăn một cách đột ngột mà phải thay đổi
từ từ. - Cho ăn một cử trong ngày, sáng hoặc chiều mát (sàn cho cá ăn là khung
hình vuông làm bằng sắt, kích cỡ tốt nhất rộng 1m2 cao 20cm, căng
bằng lưới cước). Nuôi trong ao đất không cần phân cỡ như trong bể xây, năng suất trung bình 20 - 25 tấn/ha.
- Quản lý môi trường nuôi: Chủ yếu là quản lý các yếu tố: - pH: cần
khống chế ở 7.5-8.5.; - Oxy hòa tan: cần duy trì từ 3mg/l trở lên; - Độ trong:
gây màu nước hoặc thay nước để điều chỉnh độ trong thích hợp 30-40cm. Chỉ thay
nước khi thật sự cần thịết vì cá chình rất mẫn cảm với sự thay đổi môi trường.
Mỗi lần thay không vượt quá 20% lượng nước trong ao. Vào những ngày nắng nóng,
tốt nhất chúng ta nên lấy nước vào lúc nữa đêm đến sáng sớm để tránh cho cá bị
sốc do môi trường thay đổi đột ngột dẫn đến cá bỏ ăn, dễ sinh bệnh. Cá Chình là
loài nuôi mới, ít có bệnh. Cá thường bỏ ăn là do yếu tố môi trường nên sau khi
đã thả giống phải thường xuyên định kỳ xử lý nước 1 tháng/lần cho ao, có thể sử
dụng: Virkon: 0,5kg/1000m3 nước hoặc thuốc tím 1,5kg/1000m3,
sau đó dùng Zeolite từ 5-10kg/1000m2 kết hợp cấy men vi sinh để ổn
định môi trường.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét