26/5/14


NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG TRONG NƯỚC NGỌT - NÊN HAY KHÔNG?
ThS. Huỳnh Trấn Quốc - CLBKH Chi cục Thủy sản

Trong vài năm gần đây, tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) là một trong những đối tượng thủy sản xuất khẩu chủ lực của nước ta và được nuôi phổ biến ở các vùng nước lợ ở các tỉnh ven biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Bắt đâu năm 2013, tôm thẻ chân trắng đã được thả nuôi tự phát ngoài quy hoạch ở nội đồng các tỉnh trên, thậm chí rải rác ở các tỉnh vùng nước ngọt như Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long… do đối tượng này tương đối dễ nuôi, có độ rộng muối và rộng nhiệt cao, thời gian thu hoạch ngắn, lợi nhuận thu được trước mắt từ mô hình này cao hơn nhiều so với các đối tượng thủy sản nước ngọt khác. Tuy nhiên, để nuôi được tôm thẻ chân trắng trong vùng nước ngọt, người nuôi phải sử dụng nước ngầm nhiễm mặn, bổ sung thêm muối hạt, khoáng đa lượng hoặc sử dụng nước biển nhân tạo. Mô hình sản xuất này có thể thỏa mãn nhu cầu hiện tại của một bộ phận cộng đồng nông dân nhưng với việc khoan giếng ngầm để lấy nước mặn nuôi tôm và việc thải nước nhiễm mặn từ ao nuôi tôm này ra các thủy vực nước ngọt sẽ để lại hệ lụy rất khó lường đối với lĩnh vực nông nghiệp có thế mạnh khác (cây lúa, cây ăn quả..) trong tương lai khi đất và nước bị nhiễm mặn. Nhiều nhà khoa học với nhiều công trình nghiên cứu đã cảnh báo sự bất ổn của mô hình này không phù hợp với xu hướng nuôi trồng thủy sản bền vững hiện nay do ảnh hưởng về lâu dài đối với môi trường sinh thái.
1. Một số thông tin về tôm thẻ chân trắng:
Tôm thẻ chân trắng hay còn được gọi là tôm chân trắng (TCT), đây là loài tôm biển thành thục và sinh sản ngoài biển khơi, sau đó tôm giống sẽ di cư và sinh trưởng ở vùng cửa sông nơi có độ mặn thấp hơn. Tôm thẻ chân trắng là loài có độ rộng muối cao, chúng có thể sinh trưởng trong môi trường nước có độ mặn dao động từ 0,5 - 50‰, thích hợp nhất là 10 - 25‰ và tăng trưởng nhanh ở độ mặn 5 - 10‰. Tôm thẻ chân trắng là đối tượng thủy sản có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, sau thời gian thả nuôi từ 2,5 - 3 tháng là đã đạt kích cỡ thương phẩm có thể thu hoạch hoàn toàn ao nuôi với kích cỡ tôm vào khoảng 70 - 80 con/kg. Ngoài ra, khả năng hấp thu hàm lượng protein từ thức ăn của TCT có giới hạn, do đó khi nuôi TCT không đòi hỏi phải cung cấp thức ăn hàm lượng đạm cao như nuôi tôm sú. Tuy nhiên, TCT là đối tượng thủy sản dễ bị nhiễm bệnh do tác nhân là vi-rút, khi dịch bệnh bùng phát thì rất khó kiểm soát và tỷ lệ hao hụt rất cao. Các bệnh thường gặp trong quá trình nuôi TCT là bệnh đốm trắng (WSD), hội chứng Taura (TSV), bệnh hoại tử cơ (IMNV), bệnh đầu vàng (YHV)….
2. Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng tại các tỉnh nội đồng vùng ĐBSCL
Tính đến tháng 4/2014, tại Đồng Tháp đã có 57 hộ nuôi TCT với tổng diện tích khoảng 64,19 ha tập trung nhiều nhất ở huyện Tam Nông và thị xã Hồng Ngự. Diện tích ao nuôi ở các mô hình này dao động từ 2.000 - 10.000 m2, mật độ thả nuôi khoảng 60 - 130 con/m2, thời gian nuôi từ 70 - 90 ngày và năng suất đạt trung bình 5,6 tấn/ha. Tại An Giang cũng đã có hơn 7,9 ha thả nuôi TCT của 14 hộ nuôi và đang có xu hướng mở rộng nhanh một cách tự phát. Để có nước nhiễm mặn để nuôi tôm, hầu hết người nuôi đều sử dụng nguồn nước ngầm có bổ sung muối hạt và khoáng đa lượng (độ mặn từ 2 - 7‰). Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế thu được từ mô hình này chưa ổn định, có một số hộ nuôi thu được lợi nhuận khá cao (lãi từ 100 triệu - 1 tỷ đồng/ha) do cuối năm 2013 được “trúng giá” đột biến, nhưng cũng có không ít hộ bị thua lỗ. Nguyên nhân là do người nuôi còn thiếu kinh nghiệm, chưa nắm vững được quy trình kỹ thuật, con giống có nguồn gốc không rõ ràng, không đảm bảo chất lượng…
3. Các ảnh hưởng của việc nuôi TCT trong vùng nước ngọt
Nuôi TCT trong vùng nước ngọt chắc chắn phải tạo môi trường nhân tạo để đáp ứng với đặc điểm sinh học của vật nuôi, đặc biệt là yêu cầu về nồng độ muối thích nghi và khoáng chất cần thiết để tôm có thể sinh trưởng tốt nhất. Việc khoan giếng lấy nước ngầm nhiễm mặn để nuôi tôm về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến tầng nước ngầm, nếu khai thác quá mức sẽ dẫn đến cạn kiệt nguồn nước ngầm phục vụ cho sinh hoạt và có khả năng gây sụt lún. Ngoài ra, việc thẩm thấu của nước nhiễm mặn vào đất và việc xả nước thải từ các ao nuôi TCT ra các thủy vực nước ngọt sẽ gây nguy cơ nhiễm mặn cho vùng nước ngọt đặc biệt là các vùng trồng lúa truyền thống dẫn đến năng suất lúa bị sụt giảm. Hiện nay, người nuôi TCT trong vùng nước ngọt vẫn chưa đối mặt nhiều với các dịch bệnh xảy ra trên đối tượng này do các mầm bệnh tiềm tàng trong ao nuôi chưa phát triển và các mầm bệnh chưa thích nghi với môi trường nước có độ mặn thấp. Tuy nhiên, khi mức độ thâm canh ngày càng cao và diện tích ngày càng mở rộng thì tình hình dịch bệnh cũng sẽ tăng theo và rất khó kiểm soát do các mầm bệnh tích lũy trong quá trình nuôi, môi trường nuôi bị ô nhiễm và nguồn bệnh từ con giống... Bên cạnh đó, TCT nuôi trong nước ngọt thì tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm đều thấp hơn so với nuôi ở các vùng nuôi truyền thống. Nguyên nhân là do nước ngọt có độ kiềm thấp (làm tôm khó lột xác) và thiếu rất nhiều khoáng chất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi.
Về mặt kinh tế, nuôi TCT trong vùng nước ngọt dẫn đến chi phí sản xuất sẽ tăng cao hơn so với nuôi trong nước lợ do người dân tốn nhiều chi phí hơn cho việc làm gia tăng độ mặn và hàm lượng các khoáng chất trong nước. Bên cạnh đó, vì không phải là vùng chuyên canh TCT nên chi phí đầu tư cho con giống, thức ăn, thu hoạch, vận chuyển… đều cao hơn so với các vùng nuôi truyền thống đã được quy hoạch. Tôm nuôi từ các vùng nước ngọt thì sản lượng đạt thấp và chất lượng thịt không được đánh giá cao do đó giá bán cũng thấp hơn tôm thương phẩm được nuôi trong nước lợ. Người nuôi TCT trong các vùng nước ngọt đa số là các hộ nuôi cá chuyển sang, không có kinh nghiệm chăm sóc và phòng trị bệnh cho tôm nuôi, tôm giống có chất lượng không ổn định… do đó rất dễ dẫn đến thua lỗ.
4. Khuyến cáo
Năm 2013, trong khi giá cá tra liên tục sụt giảm thì giá TCT trong nước tăng cao bất thường đã mang lại thu nhập nhất thời đáng kể cho người nuôi. Điều này đã kích thích người nuôi thủy sản trong vùng nước ngọt chuyển đổi đối tượng sản xuất sang nuôi TCT do lợi nhuận hấp dẫn mà mô hình này mang lại. Nguyên nhân của việc tăng giá thu mua tôm nguyên liệu cuối năm vừa qua là do các nước xuất khẩu chủ lực là Trung Quốc và Thái Lan gặp vấn đề về dịch bệnh dẫn đến sản lượng bị sụt giảm nghiêm trọng. Tuy nhiên, các quốc gia này hiện nay đang dần phục hồi và chiếm lại thị trường do đó giá thu mua TCT nguyên liệu ở nước ta đã và đang có xu hướng giảm nhanh.
 Đa dạng hóa đối tượng nuôi để nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất là mục tiêu cần hướng đến của ngành thủy sản trong giai đoạn tái cơ cấu ngành hiện nay. Tuy nhiên, những ảnh hưởng về lâu dài khi thả nuôi TCT trong vùng nước ngọt đã được các nhà khoa học khẳng định. Vì thế, để có thể phát triển ngành nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững, người nuôi nên lựa chọn những đối tượng thủy sản vừa mang lại lợi ích về kinh tế vừa giảm được tác động của hoạt động nuôi đối với môi trường và xã hội bởi Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học".Trong khi chờ những quyết định chính thức từ Bộ Nông nghiệp & PTNT về việc quản lý nuôi TCT thì người dân không nên tiếp tục phát triển đối tượng này trong vùng nước ngọt (vi phạm về quản lý qui hoạch); đối với vùng nước mặn, lợ cần phải thận trọng khi muốn mở rộng diện tích thả nuôi đối tượng này, không nên phá vỡ quy hoạch ở địa phương bởi tôm sú vẫn là đối tượng chủ lực và có lợi thế cạnh tranh trong khu vực và quan trọng hơn là cần có đầy đủ thông tin về thị trường để có kế hoạch sản xuất phù hợp nhằm tránh những tổn thất đáng tiếc có thể xảy ra khi cung vượt cầu như đã từng xảy ra với đối tượng khác..

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét