NUÔI CUA ĐỒNG (Somanniathelphusa spp) – GIẢI PHÁP GIẢM ÁP LỰC KHAI THÁC CUA ĐỒNG
NGOÀI TỰ NHIÊN
Tiểu Mi – CLBKH - CCTS
Cua đồng (Somanniathelphusa spp)
là đối tượng thủy sản quen thuộc, gắn bó với thửa ruộng, mảnh vườn bao đời nay
của nông dân Việt Nam. Từ lâu đây không những là loại thực phẩm dân dã truyền thống và phổ biến ở nông thôn mà gần
đây đã trở thành đặc sản của dân thị thành. Với hàm lượng dinh dưỡng rất cao thích
hợp mọi lứa tuổi, được nhiều người ưa chuộng nên thị trường tiêu thụ cua đồng trong
những năm qua luôn gia tăng. Với giá tươi sống dao động từ 30.000 – 60.000
đồng/kg, cua đồng đã len lõi từ bữa ăn hàng ngày của gia đình đến những bữa
tiệc thịnh soạn của nhà hàng trung lưu. Từ thịt cua đồng, có thể chế biến được
nhiều món ăn ngon, bổ dưỡng và có giá trị cảm quan đáp ứng thị hiếu ẩm thực,
phổ biến nhất là món canh cua hoặc lẫu cua đồng với nhiều loại rau khac nhau,
đặc biệt là món bún riêu cua, với vị ngotj, mềm, mịn từ thịt cua và hơi béo của
gạch cua,…thực khách khó tính mấy cũng không nở chối từ. Theo các chuyên gí về
dinh dưỡng thì thịt cua đồng giàu dinh dưỡng về hàm lượng chất đạm (8/10 acid
amin thiết yếu), giàu canxi, photpho, sắt và vitamin B1, B2, PP,…Ngoài ra, theo
Đông y, cua đồng còn là một vị thuốc được dân gian dùng từ lâu đời với tên điền
giải. Với vị mặn, mùi tanh, tính lạnh, có tác dụng tán huyết, bổ gân cốt, khớp
xương, trị đau nhức,…
Trước đây cua đồng phân bố rộng với số lượng rất lớn ngoài tự nhiên trên
đồng ruộng, tuy nhiên những năm gần đây, với mức độ thâm canh hóa ngày càng cao
thì tình trạng nguồn nước bị ô nhiễm cũng gia tăng bởi hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật từ nông
nghiệp, hóa chất xử lý môi trường trong nuôi trồng thủy sản, nước thải công nghiệp
từ các nhà máy. Bên cạnh đó, tình hình khai thác cua đồng ngoài tự nhiên quá
mức đã làm cho sản lượng cua đồng ngày càng cạn kiệt.
Hiện nay cua đồng đã được sản
xuất giống và đang được nuôi ở một số vùng miền nước ta, bước đầu đã mang lại
hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt góp phần giảm áp lực khai thác cua đồng từ tự
nhiên. Nuôi cua sẽ là một nghề mới rất hấp dẫn cho người dân và rất có tiềm
năng, tuy nhiên đến nay nghề nuôi cua đồng chỉ mới bắt đầu xuất hiện ở một số
địa phương trong tỉnh và đã mang lại lợi nhuận cao cho người dân, nhưng đa số
người dân chỉ nuôi ở dạng trữ chờ khi đến thời điểm giá tăng sẽ bán…
Cua đồng có kích thước tương đối lớn từ 30 - 35 mm. Ờ cua đực có sự
chênh lệch rất lớn về kích thước của đôi càng trong khi cua cái thì đôi càng kẹp tương đối đồng đều. Chúng phân bố
rộng ở vùng nước ngọt, từ đồng bằng, trung du, miền núi nước ta. Cua đồng thích
hợp phát triển ở pH từ 5,6 – 8; nhiệt độ từ 10 - 31oC; oxy hòa tan
thấp nhất là 2mg/l. Cua đồng là động vật sống đáy, thích nước sạch, đào hang,
thích nghi với bùn sét, bùn cát. Cua đào hang ven bờ ruộng, ao, mương. Cua đồng
ăn tạp thiên về động vật với các loại thức ăn như cá tạp, ốc, hến... Cua đồng
sinh sản quanh năm, mỗi lần từ 100 đến 350 trứng, trứng không qua giai đoạn ấu
trùng mà phát triển trực tiếp thành cua con ngay trong yếm cua mẹ.
Nhìn chung, cua đồng dễ nuôi,
vốn đầu tư thấp, với thời gian nuôi ngắn, ít công chăm sóc, ít bị bệnh, vì vậy
nuôi cua đồng là mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao phù hợp với điều kiện
kinh tế nông hộ các vùng miền sinh thái nước ngọt.
- Về chuẩn bị ruộng, ao nuôi
Ruộng nuôi, ao nuôi cần có nguồn nước sạch và chủ động,
dễ dàng cho việc cấp thoát. Ruộng phải bằng phẳng, chất đất tốt nhất là đất
thịt. Xung quanh bờ ruộng phải có rào chắn bằng những vật liệu có bề mặt trơn
như bạt cao su, bạt nhựa. Đào mương ở góc ruộng, diện tích mương nuôi bằng 5%
diện tích ruộng, mương nuôi rộng 4 - 6m, sâu 1 - 1,5m. Ao nuôi cần nền đáy ao
là loại đất thịt pha sét hay cát, lớp bùn dày 20cm là vừa. Ao nuôi có diện tích
300 - 1.000m2, độ sâu 0,8 - 1,2m, xung quanh bờ phải rào bằng đăng
tre, tấm nhựa hoặc lưới cước đặt nghiêng về phía ao không cho cua thoát ra
được.
- Về cải tạo ao, ruộng nuôi
Trước khi nuôi
1 - 2 tuần, tiến hành tát cạn nước để diệt hết địch hại của cua và tiêu diệt
mầm bệnh, bằng cách bón vôi 7 - 10 kg/100m2, phơi nắng 3 - 5 ngày;
sau đó cấp nước vào ao, đối với ruộng thì cấp nước vào nhưng không cho nước
tràn lên ruộng, chỉ khi nào đến thời kỳ lúa sắp làm đòng mới cấp nước lên ruộng
cho cua lên ruộng tìm thức ăn.
- Về chọn và thả giống
Có thể sử dụng
con giống đánh bắt từ tự nhiên hay con giống nhân tạo, chọn cua giống phải khỏe
mạnh, đồng đều, không bị thương tật, màu sắc tươi sáng, không bị đóng rong. Có
thể chọn cua đực để nuôi, góp phần tăng năng suất và giá trị thương phẩm. Nuôi
trong ao thả với mật độ 10 - 15 con/m2; nuôi trong ruộng thả 5 - 7
con/m2.
- Về chăm sóc, cho ăn
Khẩu phần ăn 5
- 8% trọng lượng cua/ngày và được chia làm 2 lần trong ngày. Thức ăn phải tươi,
không bị ôi thiu, nấm mốc. Cần cho cua ăn đầy đủ, nếu cua thiếu thức ăn rất dễ
ăn thịt lẫn nhau. Trong ao, ruộng nuôi, cần bố trí một số sàn ăn để đánh giá
tình trạng bắt mồi của cua, đồng thời căn cứ điều kiện thời tiết mà điều chỉnh
lượng thức ăn cho phù hợp. Thay nước định kỳ khoảng 1 tuần/lần để kích thích
cua lột xác và bắt mồi mạnh, mỗi lần thay nước từ 1/4 - 1/3 lượng nước trong
ao, ruộng.
- Về thu hoạch
Sau khoảng 8
tháng nuôi, cua đạt kích thước thương phẩm, có thể thu tỉa bán dần hoặc thu
đồng loạt. Cua chưa đạt cỡ thương phẩm thì để lại nuôi tiếp vụ sau.
Nuôi cua đồng
cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu thị hiếu của thị trường không những mang lại
thu nhập đáng kể cho nông dân mà còn là giải pháp hữu hiệu để giảm áp lực khai
thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên, vậy tại sao không phổ biến nhân rộng mô hình?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét