26/8/14

BIỆN PHÁP  GIẢM THIỂU THIỆT HẠI NUÔI THỦY SẢN TRONG MÙA LŨ

                                                         ThS. Phạm Thị Thu Hồng CHI CỤC THUỶ SẢN
     Trong những ngày gần đây đã có những biểu hiện mùa mưa lũ trở vế. Mùa mưa năm nay được cơ quan chuyên môn dự báo lũ đã có xu thế cao hơn năm 2011. Bên cạnh đó, với ảnh hưởng biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét ở ĐBSCL, các qui luật tự nhiên ngày càng bị phá vỡ thế cân bằng và xu hướng biến động bất thường, mọi sự cố thiên tai do mưa lũ đều có thể xảy ra. Là đối tượng sản xuất chịu tác động rất lớn bởi điều kiện môi trường tự nhiên nên công tác phòng ngừa và ứng phó rủi ro với thời tiết trong quá trình nuôi trồng thủy sản cần được xem trọng và không bao giờ thừa nếu thiên tai xảy ra. Bởi khi  lũ về sẽ cuốn trôi theo phèn, mang theo nhiều vật chất hữu cơ phân huỷ, cuốn theo các mầm bệnh từ thượng nguồn đổ về, cùng với độc tố thuốc bảo vệ thực vật từ nội đồng ra kênh rạch, hậu quả sẽ làm thay đổi điều kiện môi trường sống của các loài thuỷ sản nuôi, thậm chí có thể dẫn đến tôm cá chết hàng loạt.
     Theo kết quả quan trắc môi trường của cơ quan chức năng, nhìn chung, các yếu tố môi trường được khảo sát tháng qua ở địa bàn tỉnh đều nằm trong khoảng thích hợp cho nuôi trồng thủy sản, trong đó, nhiệt độ và độ trong ở các vùng nuôi ổn định so với tháng trước. Tuy nhiên, do thời điểm mùa mưa cùng với nước quay từ thượng nguồn đổ về nên chất lượng nước trên sông đang giảm, tổng các chất lơ lửng (TSS) tăng cao, các yếu tố môi trường trong ngày biến động lớn, nhất là nhiệt độ (24 – 32°C)  nên tôm cá dễ bị sốc và mẫn cảm với mầm bệnh có sẵn trong ao ở tất cả giai đoạn.
    Bên cạnh đó, ngoài việc đe doạ trực tiếp đến tài sản của người dân trong vùng, lũ còn có thể gây thiệt hại về người, phá hoại những công trình, hệ thống nuôi thuỷ sản nếu không có bước chuẩn bị gia cố tốt trước khi mùa lũ đến. Do đó, để giảm thiểu tối đa nguy cơ gây các thiệt hại trên, người nuôi cần chú ý:
1. Bảo vệ công trình, người và phương tiện nuôi: mực nước ở các sông đang lên cao, mưa bão thất thường, nhằm đảm bảo an toàn cho phương tiện và ao hầm, bảo vệ đàn cá nuôi, cơ sở nuôi trong ao phải đăng chắn, tu sửa cống bộng, gia cố bờ ao cao hơn đỉnh lũ hàng năm từ 0.3- 0,5m để phòng cá nuôi bị thất thoát ra ngoài gây thiệt hại cho sản xuất. Riêng đối với cơ sở nuôi lồng bè phải kiểm tra lưới, dây neo, chằng chống lại cho chắc chắn và trang bị phao cứu sinh đầy đủ. Đặc biệt trong ngững ngày triều cường, mưa kèm theo giông, lốc xoáy tuyệt đối chủ cơ sở không nên để trẻ em sinh hoạt dưới lồng bè.
2. Bảo vệ sức khỏe vật nuôi trong mùa lũ:
Vào thời điểm “nướcxoan”(lưu lượng nước trên thượng nguồn đổ về mạnh có màu sậm, đục) không nên lấy nước trực tiếp vào ao nuôi mà phải qua hệ thống lắng, lọc hoặc xử lý bằng các chế phẩm sinh học để lọai bỏ tác nhân gây bệnh và duy trì chất lượng nguồn nước nuôi tốt. Các cơ sở nuôi bắt đầu vụ nuôi mới nhất thiết phải tiến hành cải tạo ao thật kỹ theo đúng qui trình, đặc biệt phải dùng vôi xử lý diệt khuẩn để phòng bệnh nấm và ký sinh trùng cho tôm cá vào mùa mưa.
* Đối với bệnh do ký sinh trùng: Vào giai đoạn này, nhiệt độ môi trường thường xuyên xuống thấp (nhất là những ngày mưa kéo dài) là yếu tố tạo điều kiện cho các các dạng bệnh ký sinh trùng trên cá nuôi (đặc biệt là bệnh ngoại ký sinh) như: trùng bánh xe, trùng mỏ neo, trùng quả dưa… phát sinh.Với xu hướng hạn chế ô nhiễm môi trường do sử dụng các hoá chất độc hại, thì việc dùng muối ăn (NaCl) và vôi nông nghiệp (CaCO3) để phòng ngừa các bệnh này cho cá nuôi trong mùa lũ nên được khuyên người nuôi sử dụng.
            - Cả 2 loại trên cho vào túi vải (mỗi loại 1 túi) treo ở 4 góc nơi cho cá ăn và nên bắt đầu treo khi cho cá ăn với liều lượng: + Nuôi lồng/bè : Vôi: 2-5kg/túi, muối 10-20kg/túi; + Nuôi ao hầm: Vôi: 1-2kg/túi, muối: 5-10kg/túi.
                - Tuỳ theo qui mô nuôi, diện tích nuôi và thể tích nước của đàn cá nuôi mà thay đổi liều lượng. Định kỳ 10-15 ngày thực hiện 1 lần. Nếu phát hiện cá có biểu hiện giảm ăn, nhào lộn dữ dội, trên da và mang có nhiều nhớt, chết với số lượng ít và tăng không đáng kể thì thực hiện treo vôi và muối liên tục trong 3 ngày. Đối với mô hình nuôi ao hầm thì mỗi ngày còn phải thay 10-15% thể tích nước trong ao. Ngoài ra, nên sử dụng thêm lá xoan, dây giác, cỏ mực... đập dập rồi bọc lại bằng lưới cước treo ở đầu bè hoặc ở chỗ cho ăn với liều lượng 5-10kg/mỗi lần treo sẽ nâng cao hiệu quả phòng ngừa các bệnh ngoại ký sinh trên cá trong mùa mưa lũ.
*  Đối với những bệnh nhiễm khuẩn khác: với các biểu hiện đốm đỏ trên thân, mắt và hậu môn sưng đỏ, các vây bị rách, xuất huyết, hoại tử ... khi điều trị nên dùng 1 trong 3 loại kháng sinh dưới đây đưa vào thức ăn với liều lượng:
+ Oxytetracyclin (OTC) hoặc Tetracyclin: 60 -80mg/kg thể trọng/ngày
+ Chlotetracyclin: 15 - 25mg/kg thể trọng/ngày
Dùng liên tục 5 - 7 ngày (tối đa 14 ngày). Ngưng dùng thuốc 4 tuần trước khi thu hoạch. Đối với bệnh nhiễm khuẩn đường ruột nên sử dụng tỏi (được tinh chế) trộn vào thức ăn để điều trị (với liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất) rất an tòan và công hiêu.
         - Nên dùng kết hợp Trimethoprim (T) với một loại Sulfamid (S) (Sulfadiazin, Sulfadimidin, Sulfadimethoxin) để giảm lượng thuốc sử dụng và tăng khả năng kháng khuẩn. Có thể dùng Trimethoprim + Sulfamid tỷ lệ 1/5 là 50mg/kg thể trọng/ngày.
         - Hoặc dùng kết hợp (OTC) với tổ hợp (T) + (S): OTC 37mg + (T + S): 30- 40mg/kg thể trọng/ngày.
 * Riêng đối với bệnh gan, thận có mủ trên cá tra: tuyệt đối không dùng các loại kháng sinh trong danh mục cấm, nên dùng thuốc Florfenicol để trị với liều lượng 100 - 120g/ tấn thức ăn (tốt nhất nên theo chỉ định của nhà sản xuất). Sử dụng thuốc này từ 3-5 ngày sẽ cho hiệu quả tốt, cá sẽ hồi phục nhưng với điều kiện người nuôi phải duy trì khâu vệ sinh diệt mầm bệnh trong khu vực nuôi, quản lý chất lượng nước tốt và tăng cường dinh dưỡng tốt cho thủy sản nuôi.
* Ngoài bệnh gan, thận có mủ, trong thời gian gần đây còn xuất hiện bệnh vàng da trên cá tra, thường xuất hiện cao điểm vào mùa mưa và các tháng trời lạnh. Bệnh gây mất máu, giảm hồng cầu dẫn đến khả năng lấy oxy kém, sức đề kháng giảm làm cá dễ nhiễm các bệnh khác, chết hàng loạt và nhanh chóng. Nguyên nhân là do thường vào ban đêm ở đáy ao sâu 3-4m , đặc biệt ao cho cá ăn bằng thức ăn tự chế lâu ngày, sẽ làm tích tụ nhiều chất phân hủy độc hại dẫn đến trong nước thiếu oxy nghiêm trọng về ban đêm. Cá bệnh vàng da thường chết nhiều vào buổi sáng, nhất là những ao nuôi với mật độ dày (trên 50 con/m2) và đây là nguyên nhân làm bùng phát bệnh dữ dội. Do vậy, người nuôi nên cho cá ăn bằng thức ăn công nghiệp đảm bảo chất lượng và phải có hệ thống sục khí đáy ao thích hợp để bổ sung oxy và đẩy khí độc từ đáy ao lên. Việc quản lý môi trường nuôi tốt bằng cách thường xuyên kiểm tra chất lượng nước, loại bỏ khí độc nitric (NO2) và amoniac (NH3) ở đáy ao thông qua việc sử dụng các chế phẩm sinh học sẽ hạn chế được bệnh vàng da trên cá.
3.  Cải tiến phương pháp quản lý và chăm sóc để nâng cao hiệu quả sản xuất:
Nguồn giống thả nuôi trong giai đoạn này thường  kém chất lượng do cuối vụ sinh sản, có thể đã bị mắc bệnh từ nguồn giống chưa được kiểm tra chất lượng, chưa được chọn lựa kỹ còn mang mầm bệnh hoạc giống chưa được xử lý diệt trùng. Sau khi thả xuống nuôi một thời gian gặp thời tiết thay đổi sẽ thuận lợi cho mầm bệnh phát triển. Tuy nhiên, tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể cá có phát sinh ra bệnh hay không còn tùy thuộc vào yếu tố môi trường và bản thân cơ thể ký chủ. Nếu cá có sức đề kháng tốt, có khả năng chống đỡ lại yếu tố gây bệnh thì sẽ không mắc bệnh hoặc bệnh nhẹ và ngược lại. Do đó để phòng bệnh có hiệu quả, ngoài việc con giống phải bảo đảm chất lượng,: quan trọng hơn phải tăng cường sức đề kháng cho thủy sản nuôi bằng cách:
+ Thả ghép các loài cá với mật độ thả thích hợp: Do khả năng miễn dịch của mỗi loài cá với 1 số sinh vật gây bệnh khác nhau nên điều kiện để phát sinh ra bệnh trong thủy vực nuôi ghép ít hơn ao nuôi chuyên 1 loài với mật độ dày. Như vậy vừa tận dụng không gian sống rộng rãi sẽ có tác dụng phòng bệnh tốt mà còn tận dụng thức ăn tự nhiên phong phú vào mùa lũ để giảm chi phí sản xuất;.
+ Nuôi xen canh các loài thủy sản: Trong 1 ao nuôi hay 1 khu vực nuôi , trong quá trình nuôi sẽ tích lũy nhiều chất thải và các mầm bệnh, sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi và có điều kiện gây bệnh cho chu kỳ nuôi tiếp theo. Do đó, dựa vào đặc tính mùa vụ, có thể nuôi xen canh giúp cho đối tượng nuôi mới không bị nhiễm mầm bệnh của các chu kỳ nuôi trước và chúng có thể tiêu diệt được các mầm bệnh đó.
+ Luôn đảm bảo chất và số lượng thức ăn đáp ứng nhu cầu vật nuôi đồng thời thường xuyên trộn thêm Vitamin C và Premix khoáng để kích thích vật nuôi chuyển hóa thức ăn cho tăng trưởng tốt nhất từ đó sản sinh kháng thể chống lại các tác nhân gây bệnh luôn có sẵn trong môi trường nuôi và bên ngoài xâm nhập vào..

+ Cải tiến phương pháp cho ăn: đối với các hình thức nuôi thâm canh, nên ứng dụng cho cá  ăn gián đoạn (7 ngày ngưng 2 ngày hoặc 3 ngày ngưng 1 ngày) thay vì cho ăn liên tục mỗi ngày như kỹ thuật nuôi truyền thống. Ứng dụng này sẽ làm giảm chi phí thức ăn mà tăng trọng, năng suất nuôi không giảm góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất hơn. Phương pháp cho ăn này phù hợp với khả năng và điều kiện nuôi của từng nông hộ, dễ dàng thực hiện và mang lại hiệu quả kinh tế cao và  xã hội như (1) Góp phần giúp người nuôi giảm hệ số tiêu tốn thức ăn, hạ giá thành sản phẩm  dẫn đến tăng hiệu quả kinh tế; (2) Hạn chế ô nhiễm môi trường nước bên ngoài do chất thải của hệ thống nuôi thải ra từ lượng thức ăn để đảm bảo an toàn môi trường, an toàn dịch bệnh cho nghề nuôi vào mùa lũ./

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét