BIỆN
PHÁP GIẢM THIỂU THIỆT HẠI NUÔI THỦY SẢN
TRONG MÙA LŨ
ThS. Phạm Thị Thu Hồng –
CHI CỤC THUỶ SẢN
Trong những ngày gần đây đã có những biểu hiện mùa
mưa lũ trở vế. Mùa mưa năm nay được cơ quan chuyên môn dự báo lũ đã có xu thế
cao hơn năm 2011. Bên cạnh đó, với ảnh hưởng biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét ở
ĐBSCL, các qui luật tự nhiên ngày càng bị phá vỡ thế cân bằng và xu hướng biến
động bất thường, mọi sự cố thiên tai do mưa lũ đều có thể xảy ra. Là đối tượng
sản xuất chịu tác động rất lớn bởi điều kiện môi trường tự nhiên nên công tác
phòng ngừa và ứng phó rủi ro với thời tiết trong quá trình nuôi trồng thủy sản cần
được xem trọng và không bao giờ thừa nếu thiên tai xảy ra. Bởi khi lũ về sẽ cuốn trôi theo phèn, mang theo nhiều
vật chất hữu cơ phân huỷ, cuốn theo các mầm bệnh từ thượng nguồn đổ về, cùng với
độc tố thuốc bảo vệ thực vật từ nội đồng ra kênh rạch, hậu quả sẽ làm thay đổi
điều kiện môi trường sống của các loài thuỷ sản nuôi, thậm chí có thể dẫn đến
tôm cá chết hàng loạt.
Theo kết
quả quan trắc môi trường của cơ quan chức năng, nhìn chung, các yếu tố môi trường
được khảo sát tháng qua ở địa bàn tỉnh đều nằm trong khoảng thích hợp cho nuôi
trồng thủy sản, trong đó, nhiệt độ và độ trong ở các vùng nuôi ổn định so với tháng trước. Tuy nhiên, do
thời điểm mùa mưa cùng với nước “quay” từ thượng nguồn đổ về nên chất
lượng nước trên sông đang giảm, tổng các chất lơ lửng (TSS) tăng cao, các yếu tố
môi trường trong ngày biến động lớn, nhất là nhiệt độ (24 – 32°C) nên
tôm cá dễ bị sốc và mẫn cảm với mầm bệnh
có sẵn trong ao ở tất cả giai đoạn.
Bên
cạnh đó, ngoài việc đe doạ trực tiếp đến tài sản của người dân trong vùng, lũ
còn có thể gây thiệt hại về người, phá hoại những công trình, hệ thống nuôi thuỷ
sản nếu không có bước chuẩn bị gia cố tốt trước khi mùa lũ đến. Do đó, để giảm
thiểu tối đa nguy cơ gây các thiệt hại trên, người nuôi cần chú ý:
1. Bảo vệ công trình, người và phương tiện nuôi: mực nước ở các sông
đang lên cao, mưa bão thất thường, nhằm đảm bảo an toàn cho phương tiện và ao hầm,
bảo vệ đàn cá nuôi, cơ sở nuôi trong ao phải đăng chắn, tu sửa cống bộng, gia cố
bờ ao cao hơn đỉnh lũ hàng năm từ 0.3- 0,5m để phòng cá nuôi bị thất thoát ra
ngoài gây thiệt hại cho sản xuất. Riêng đối với cơ sở nuôi lồng bè phải kiểm
tra lưới, dây neo, chằng chống lại cho chắc chắn và trang bị phao cứu sinh đầy
đủ. Đặc biệt trong ngững ngày triều cường, mưa kèm theo giông, lốc xoáy tuyệt đối
chủ cơ sở không nên để trẻ em sinh hoạt dưới lồng bè.
2. Bảo vệ sức khỏe vật nuôi trong mùa lũ:
Vào thời điểm “nướcxoan”(lưu lượng nước trên thượng nguồn đổ về mạnh có màu sậm, đục) không nên lấy
nước trực tiếp vào ao nuôi mà phải qua hệ thống lắng, lọc hoặc xử lý bằng các
chế phẩm sinh học để lọai bỏ tác nhân gây bệnh và duy trì chất lượng nguồn nước
nuôi tốt. Các cơ sở nuôi bắt đầu vụ nuôi mới nhất thiết phải tiến hành cải tạo
ao thật kỹ theo đúng qui trình, đặc biệt phải dùng vôi xử lý diệt khuẩn để
phòng bệnh nấm và ký sinh trùng cho tôm cá vào mùa mưa.
* Đối với bệnh do ký sinh trùng: Vào giai đoạn này, nhiệt độ môi
trường thường xuyên xuống thấp (nhất là những ngày mưa kéo dài) là yếu tố tạo
điều kiện cho các các dạng bệnh ký sinh trùng trên cá nuôi (đặc biệt là bệnh
ngoại ký sinh) như: trùng bánh xe, trùng mỏ neo, trùng quả dưa… phát sinh.Với
xu hướng hạn chế ô nhiễm môi trường do sử dụng các hoá chất độc hại, thì việc
dùng muối ăn (NaCl) và vôi nông nghiệp (CaCO3) để phòng ngừa các bệnh này cho
cá nuôi trong mùa lũ nên được khuyên người nuôi sử dụng.
-
Cả 2 loại trên cho vào túi vải (mỗi loại 1 túi) treo ở 4 góc nơi cho cá ăn và
nên bắt đầu treo khi cho cá ăn với liều lượng: + Nuôi lồng/bè : Vôi: 2-5kg/túi,
muối 10-20kg/túi; + Nuôi ao hầm: Vôi: 1-2kg/túi, muối: 5-10kg/túi.
-
Tuỳ theo qui mô nuôi, diện tích nuôi và thể tích nước của đàn cá nuôi mà thay đổi
liều lượng. Định kỳ 10-15 ngày thực hiện 1 lần. Nếu phát hiện cá có biểu hiện
giảm ăn, nhào lộn dữ dội, trên da và mang có nhiều nhớt, chết với số lượng ít
và tăng không đáng kể thì thực hiện treo vôi và muối liên tục trong 3 ngày. Đối
với mô hình nuôi ao hầm thì mỗi ngày còn phải thay 10-15% thể tích nước trong
ao. Ngoài ra, nên sử dụng thêm lá xoan, dây giác, cỏ mực... đập dập rồi bọc lại
bằng lưới cước treo ở đầu bè hoặc ở chỗ cho ăn với liều lượng 5-10kg/mỗi lần
treo sẽ nâng cao hiệu quả phòng ngừa các bệnh ngoại ký sinh trên cá trong mùa
mưa lũ.
* Đối với những bệnh nhiễm khuẩn khác: với các biểu hiện đốm đỏ trên
thân, mắt và hậu môn sưng đỏ, các vây bị rách, xuất huyết, hoại tử ... khi điều
trị nên dùng 1 trong 3 loại kháng sinh dưới đây đưa vào thức ăn với liều lượng:
+
Oxytetracyclin (OTC) hoặc Tetracyclin: 60 -80mg/kg thể trọng/ngày
+
Chlotetracyclin: 15 - 25mg/kg thể trọng/ngày
Dùng
liên tục 5 - 7 ngày (tối đa 14 ngày). Ngưng dùng thuốc 4 tuần trước khi thu
hoạch. Đối với bệnh nhiễm khuẩn đường ruột nên sử dụng tỏi (được tinh chế) trộn
vào thức ăn để điều trị (với liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất) rất an
tòan và công hiêu.
- Nên dùng kết hợp Trimethoprim (T)
với một loại Sulfamid (S) (Sulfadiazin, Sulfadimidin, Sulfadimethoxin) để giảm
lượng thuốc sử dụng và tăng khả năng kháng khuẩn. Có thể dùng Trimethoprim +
Sulfamid tỷ lệ 1/5 là 50mg/kg thể trọng/ngày.
- Hoặc dùng kết hợp (OTC) với tổ hợp (T) +
(S): OTC 37mg + (T + S): 30- 40mg/kg thể trọng/ngày.
* Riêng
đối với bệnh gan, thận có mủ trên cá tra: tuyệt đối không dùng các loại
kháng sinh trong danh mục cấm, nên dùng thuốc Florfenicol để trị với liều lượng
100 - 120g/ tấn thức ăn (tốt nhất nên theo chỉ định của nhà sản xuất). Sử dụng
thuốc này từ 3-5 ngày sẽ cho hiệu quả tốt, cá sẽ hồi phục nhưng với điều kiện
người nuôi phải duy trì khâu vệ sinh diệt mầm bệnh trong khu vực nuôi, quản lý
chất lượng nước tốt và tăng cường dinh dưỡng tốt cho thủy sản nuôi.
* Ngoài bệnh gan, thận có
mủ, trong thời gian gần đây còn xuất hiện bệnh vàng da trên cá tra, thường xuất
hiện cao điểm vào mùa mưa và các tháng trời lạnh. Bệnh gây mất máu, giảm hồng
cầu dẫn đến khả năng lấy oxy kém, sức đề kháng giảm làm cá dễ nhiễm các bệnh
khác, chết hàng loạt và nhanh chóng. Nguyên nhân là do thường vào ban đêm ở đáy
ao sâu 3-4m , đặc biệt ao cho cá ăn bằng thức ăn tự chế lâu ngày, sẽ làm tích
tụ nhiều chất phân hủy độc hại dẫn đến trong nước thiếu oxy nghiêm trọng về ban
đêm. Cá bệnh vàng da thường chết nhiều vào buổi sáng, nhất là những ao nuôi với
mật độ dày (trên 50 con/m2) và đây là nguyên nhân làm bùng phát bệnh
dữ dội. Do vậy, người nuôi nên cho cá ăn bằng thức ăn công nghiệp đảm bảo chất
lượng và phải có hệ thống sục khí đáy ao thích hợp để bổ sung oxy và đẩy khí
độc từ đáy ao lên. Việc quản lý môi trường nuôi tốt bằng cách thường xuyên kiểm
tra chất lượng nước, loại bỏ khí độc nitric (NO2) và amoniac (NH3)
ở đáy ao thông qua việc sử dụng các chế phẩm sinh học sẽ hạn chế được bệnh vàng
da trên cá.
3. Cải tiến phương pháp quản lý và chăm sóc để nâng cao hiệu quả sản xuất:
Nguồn
giống thả nuôi trong giai đoạn này thường
kém chất lượng do cuối vụ sinh sản, có thể đã bị mắc bệnh từ nguồn giống chưa được kiểm
tra chất lượng, chưa được chọn lựa kỹ còn mang mầm bệnh hoạc giống chưa được xử
lý diệt trùng. Sau khi thả xuống nuôi một thời gian gặp thời tiết thay đổi sẽ
thuận lợi cho mầm bệnh phát triển. Tuy nhiên, tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ
thể cá có phát sinh ra bệnh hay không còn tùy thuộc vào yếu tố môi trường và bản
thân cơ thể ký chủ. Nếu cá có sức đề kháng tốt, có khả năng chống đỡ lại yếu tố
gây bệnh thì sẽ không mắc bệnh hoặc bệnh nhẹ và ngược lại. Do đó để phòng bệnh
có hiệu quả, ngoài việc con giống phải
bảo đảm chất lượng,: quan trọng hơn phải tăng cường sức đề kháng cho thủy
sản nuôi bằng cách:
+ Thả ghép các loài
cá với mật độ thả thích hợp:
Do khả năng miễn dịch của mỗi loài cá với 1 số sinh vật gây bệnh khác nhau nên
điều kiện để phát sinh ra bệnh trong thủy vực nuôi ghép ít hơn ao nuôi chuyên 1
loài với mật độ dày. Như vậy vừa tận dụng không gian sống rộng rãi sẽ có tác dụng
phòng bệnh tốt mà còn tận dụng thức ăn tự nhiên phong phú vào mùa lũ để giảm
chi phí sản xuất;.
+ Nuôi xen canh các loài thủy sản: Trong 1 ao nuôi hay 1 khu vực nuôi
, trong quá trình nuôi sẽ tích lũy nhiều chất thải và các mầm bệnh, sẽ ảnh hưởng
đến sức khỏe vật nuôi và có điều kiện gây bệnh cho chu kỳ nuôi tiếp theo. Do
đó, dựa vào đặc tính mùa vụ, có thể nuôi xen canh giúp cho đối tượng nuôi mới
không bị nhiễm mầm bệnh của các chu kỳ nuôi trước và chúng có thể tiêu diệt được
các mầm bệnh đó.
+ Luôn đảm bảo chất và số lượng
thức ăn đáp ứng nhu cầu vật nuôi đồng thời thường xuyên trộn thêm Vitamin C và
Premix khoáng để kích thích vật nuôi chuyển hóa thức ăn cho tăng trưởng tốt nhất
từ đó sản sinh kháng thể chống lại các tác nhân gây bệnh luôn có sẵn trong môi
trường nuôi và bên ngoài xâm nhập vào..
+
Cải tiến phương pháp cho ăn: đối với
các hình thức nuôi thâm canh, nên ứng dụng cho cá ăn gián đoạn (7 ngày ngưng 2 ngày hoặc 3 ngày
ngưng 1 ngày) thay vì cho ăn liên tục mỗi ngày như kỹ thuật nuôi truyền thống. Ứng
dụng này sẽ làm giảm chi phí thức ăn mà tăng trọng, năng suất nuôi không giảm
góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất hơn. Phương pháp cho ăn này phù hợp với khả
năng và điều kiện nuôi của từng nông hộ, dễ dàng thực hiện và mang lại hiệu quả
kinh tế cao và xã hội như (1) Góp phần
giúp người nuôi giảm hệ số tiêu tốn thức ăn, hạ giá thành sản phẩm dẫn đến tăng hiệu quả kinh tế; (2) Hạn chế ô nhiễm môi trường nước bên
ngoài do chất thải của hệ thống nuôi thải ra từ lượng thức ăn để đảm bảo an
toàn môi trường, an toàn dịch bệnh cho nghề nuôi vào mùa lũ./
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét