Những lưu ý khi sử dụng Chlorine
trong nuôi trồng thủy sản
ThS.Tiểu Mi – CLBKH – Chi cục Thủy sản
Chlorine là
hóa chất có tác dụng oxy hóa và sát khuẩn rất mạnh, thường được dùng với mục
đích tẩy trắng và khử trùng. Chlorine được sử dụng phổ biến trong ngành thủy
sản, dệt, giấy, xử lý nước…như xử lý
nước nuôi, nước thải, vệ sinh các cơ sở sản xuất thủy sản, trắng giấy, vải sợi…
Hiện nay, với mục đích chính là khử trùng nhằm diệt hay bất hoạt các vi sinh
vật trong nước, Chlorine được dùng để xử lý nước trong nuôi thủy sản, đặc biệt
là trong nuôi cá tra thâm canh. Tuy
nhiên, nếu sử dụng chlorine hợp lý sẽ mang lại lợi ích thiết thực và hiệu quả
cao cho người sử dụng nhưng ngược lại nếu sử dụng không hợp lý sẽ gây tác hại
cho đối tượng nuôi, môi trường và cả con người. Đặc biệt, hàm lượng chlorine tự do (Cl2), acid
hypochlorous (HOCl) và ion hypochlorite (OCl-) tồn lưu trong nước sẽ gây độc đối với
tôm cá và các loài thủy sinh vật. Ngoài ra, các sản phẩm của chlorine với các
chất hữu cơ như Trihalomethan (CHCl3, CHCl2Br, CHClBr2,
...) là các hợp chất độc với thủy sinh vật và con người, chúng được xem là tác
nhân gây bệnh ung thư ở người và động vật.
Vì vậy khi sử dụng chlorine trong nuôi trồng thủy sản
cần phải lưu ý những vấn đề sau nhằm hỗ trợ cho người nuôi tránh được những
tác động xấu cho đối tượng nuôi thủy sản, môi trường và con người.
- Tác
dụng và hiệu quả khử trùng của các dạng chlorine:
Ngày
nay các nguồn chlorine thương mại phổ biến trên thị trường ở các dạng chlorine
(Cl2), hypochlorite canxi [Ca(OCl)2], Mg(OCl)2, triisocyaniat (CN3(OCl)x)…
và hypochlorite natri (NaOCl). Trong đó Ca(OCl)2 và
triisocyaniat là hai chất có hàm lượng ion hypochlorite (OCl-) cao
và khử trùng hiệu quả . Sự hiện diện của các dạng chlorine phụ thuộc vào pH của
nước, dạng Cl2 không hiện diện khi pH lớn hơn 2, HOCl là dạng phổ
biến nhất khi pH nằm trong khoảng 1-7,48, HOCl=OCl- khi pH = 7,48 và
OCl- thì cao hơn HOCl khi pH trên 7,48. HOCl có hiệu quả khử trùng
mạnh hơn OCl- khoảng
100 lần. Do đó, chlorine chỉ có hiệu quả khử trùng cao khi pH nhỏ hơn 6. Không
nên dùng chlorine khi pH lớn hơn 7,48 và không được bón vôi trước khi khử trùng
nước.
Cơ
chế tác dụng của chlorine trong khử trùng là HOCl phản ứng với hệ enzyme oxy
hóa glucose và các hoạt động trao đổi chất, kết quả gây chết tế bào. Phản ứng
này có liên quan đến sự oxy hóa của HOCl đối với enzyme có chứa gốc HS-.
Đa số virus đều không có enzyme chứa gốc HS- nên chlorine hầu như
khôngcó tác dụng diệt hay bất hoạt virus.
Để diệt vi sinh vật trong môi trường nước ngọt có thể dùng
1,5 mg/L của chlorine (tương đương 6 mg/L của Ca(OCl)2 70%). Trong
môi trường mặn lợ do độ pH thường khá cao nên khử trùng chlorine với nồng độ
5-7 mg/L (tương đương 20-30 mg/L của Ca(OCl)2 70%).
- Tác hại của Chlorine tự do và sự lưu tồn
Nồng độ chlorine tự do tối đa cho phép đối với thủy sinh
vật là 0,01 mg/L. Ở nồng độ 0,1 mg/L, chlorine tự do có thể gây chết hầu hết
phiêu sinh vật biển và nồng độ chlorine tự do 0,37 mg/L có thể gây chết cá. Khi
hàm lượng chlorine xử lý trong ao nuôi dư, chúng sẽ tác dụng lên cá như oxy hóa
tế bào mang của cá dẫn đến hiện tượng cá bị ngộ độc clo, làm nhịp hô hấp của cá
tăng mạnh, cá có thể chết do giảm oxy trong máu.
Sản phẩm phụ của chlorine với ammonia
Trong ao nuôi thủy sản việc sử dụng chlorine trực tiếp để khử
trùng, loại bỏ chất hữu cơ hay amoniac thường mang lại hiệu quả không cao và
gây độc cho đối tượng nuôi nếu lượng chlorine sử dụng quá nhiều. Khi xử lý chlorine
thì ammonia trong nước phản ứng với chlorine tạo ra monochloramine, dichloramine,
và trichloramines có hiệu quả
khử trùng thấp hơn nhiều so với HOCl và OCl-. Các hợp chất này bền,
có thời gian lưu tồn lâu và cũng độc đối với sinh vật. Các hợp chất chloramine
có tác dụng giống như NO2-, chúng phản ứng với
Hemoglobine tạo thành Methemoglobine gây ra chứng bệnh máu màu nâu và làm giảm khả
năng vận chuyển oxy của máu. Vì vậy, không nên dùng chlorine để diệt tảo và
diệt khuẩn cho ao nuôi, chlorine sẽ làm giảm sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá.
Ngoài ra, khi cho chlorine vào trong
nước khử trùng ao lượng clo dễ dàng tác dụng với hydro sulfua tạo thành sulfat,
tác dung với chất khác như: Fe2+,
Mn2+, NO2,… dẫn đến hao hụt một lượng chlorine,
lượng hao hụt này không có tác dụng khử trùng trong ao nuôi. Do đó, sự hiện diện của hợp chất hữu
cơ và khử vô cơ trong nước làm tăng liều lượng chlorine khi khử trùng.
Sản phẩm phụ của chlorine với các
chất hữu cơ:
Trong
môi trường giàu chất hữu cơ, HOCl sẽ phản ứng với CH4 và các nguyên
tố khác có trong nước để hình thành các hợp chất Trihalomethan (CHCl3,
CHCl2Br, CHClBr2, ...) là các hợp chất độc với thủy sinh
vật và con người, chúng được xem là tác nhân gây bệnh ung thư ở người và động
vật.
- Khử chlorine
Có thể khử chlorine bằng Natri thiosulfate (Na2S2O3).
Để khử 1 mg/l Cl2 cần 6,99mg/l thiosunfate natri. Do đó, sau khi khử
trùng nên khử chlorine hoặc sục khí mạnh trong 3-5 ngày trước khi thả cá tôm.
Tóm lại, chlorine có hiệu quả tốt để diệt khuẩn các nhóm sinh vật kích thước nhỏ,
đối với bào tử của vi sinh vật và nhưng đối với virus thì hiệu quả xử lý không cao. Chỉ nên dùng
chlorine để khử trùng nguồn nước cấp vào đầu vụ nuôi. Không nên xử lý chlorine
khi trong nước ao giàu muối dinh dưỡng và chất hữu cơ vào giữa và cuối vụ nuôi.
Sau khi xử lý cần thời gian ít nhất là 96 giờ (4 ngày đêm) mới thả nuôi cá tôm
tránh tác hại của các hợp chất chloramines và nên kiểm tra hàm lượng chlo trước
khi thả nuôi tôm cá. Điều đặc biệt lưu ý là người sử dụng phải tuyệt đối tuân
thủ theo nguyên tắc sử dụng thuốc và hóa chất theo qui định hiện hành của nhà
nước và khuyến cáo của nhà sản xuất để đảm bảo an toàn cho người và vật nuôi,
an toàn vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng và thân thiện với môi trường cho
cộng đồng và xã hội.
(Nguồn tham khảo: từ UV-Việt Nam)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét