Xác định Cá
rô đầu vuông cùng một loài với cá rô đồng (Anabas testudineus)
ThS.
Phạm Thị Thu Hồng – CLBKH.CCTS
Đó là một trong những kết quả nổi bật
của đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu đặc điểm
sinh học và một số chỉ số đa dạng di truyền của các dòng cá Rô đồng (Anabas
testudineus) ở đồng bằng sông Cửu Long”
do Ts. Dương Thúy Yên, Bộ môn Kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt - Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ, chủ
nhiệm đề tài thực hiện từ tháng 01/ 2012 đến tháng 3/2014, đã báo cáo nghiệm
thu thành công.
Cá rô đồng là loài thủy sản có thịt béo,
thơm, dai, ngon, có giá trị cao, tiêu thụ khá mạnh cả ở nông thôn, thành phố
nên từ lâu đã là đối tượng thuỷ sản quan trọng và có giá trị kinh tế cao được
nuôi phổ biến ở các tỉnh vùng ĐBSCL và miền Đông Nam bộ. Tuy nhiên, tỉ lệ thành
công nuôi cá rô đồng trong thời gian qua còn thấp do hệ số thức ăn cao bởi cá
tăng trưởng chậm, tinh phân đàn giữa con cái và đực rất lớn đẫn đến kích cỡ thu
hoạch thường nhỏ (không đáp ứng nhu cầu thị hiếu tiêu dùng). Gần đây xuất phát
từ tỉnh Hậu Giang, dòng cá rô đầu vuông có kích thước lớn và tăng trưởng nhanh
hơn nhiều so với cá rô đồng bình thường đã nhanh chóng đưa vào sản xuất đại trà
ở nhiều tỉnh ĐBSCL và mở rộng ở vài tỉnh miền Bắc và miền Trung nuôi bằng con
giống nhân tạo được sản xuất tương đối dễ dàng, các mô hình đã mang lại hiệu
quả kinh tế đáng kể cho người nuôi. Thế nhưng, với năng suất cao, sản lượng
hàng hóa lớn cung ứng ra thị trường chưa song hành với việc cung cấp thông tin
sản phẩm và định hướng tiêu dùng nên đã có thời điểm giá cá giảm thấp xuống
“tận đáy” mà vẫn khó tiêu thụ. bởi những tin đồn thất thiệt. Vì thế cung cấp
thông tin chính thống để mọi người biết được nguồn gốc, đặc điểm sinh học của
cá rô đầu vuông để có định hướng phát triển dòng cá đặc biệt này cũng như quảng
bá sản phẩm thủy sản có giá trị cảm quan và dinh dưỡng cao như cá rô đầu vuông (RĐV)
là trách nhiệm của cơ quan chuyên môn.
Với những đặc tính nổi trội và lợi thế hơn
cá rô đồng, nếu để người dân sản xuất tự phát, lai tạo và chọn lọc giống không
định hướng có thể dẫn đến sự suy thoái của các dòng cá rô và làm mất nguồn gene gốc ban đầu. Trước nhu cầu thực
tiễn từ sự xuất hiện cá rô đầu vuông và nhu cầu cần bổ sung những thông tin
khoa học còn hạn chế trong nghiên cứu cá rô đồng trên thế giới và Việt Nam,
nghiên cứu đặc điểm sinh học và chỉ số đa dạng di truyền của các dòng cá rô
đồng ở ĐBSCL là cấp thiết, vì thế đề tài trên đã được thực hiện với mục tiêu: (i)
Xác định một số chỉ tiêu sinh học và đa dạng di truyền làm cơ sở định loại các
loài trong giống Anabas; (ii) Định
loại cá Rô đầu vuông và mô tả đặc điểm sinh học, đặc điểm đa dạng di truyền của
các quần thể và (iii) Đánh giá biểu hiện
về một số đặc điểm quan trọng cho nghề nuôi như
tăng trưởng, tỉ lệ sống... của đàn con các quần thể cá rô trong cùng một
điều kiện nuôi. Trong đề tài này, tác
giả đã sử dụng. các quần thể cá rô để nghiên cứu gồm cá rô “đầu vuông” thu ở
Hậu Giang và cá rô tự nhiên thu ở 3 nơi Đồng Tháp, Hậu Giang và Cà Mau.
Kết quả nghiên cứu
đã (1) Xác định được cá rô đầu
vuông cùng một loài với cá rô đồng (Anabas
testudineus) bởi chúng giống nhau về các chỉ tiêu hình thái đếm và mức độ
tương đồng 3 gene mã vạch (Cytochrome C oxidase subunit 1, Cytochrome b
và Rhodopsin) đạt 99 -100%; (2) Xác
định được những điểm giống và khác nhau về hình thái, sinh học sinh trưởng,
sinh học sinh sản giữa các RĐV và cá rô tự nhiên phân bố ở các vùng khác nhau. Điểm khác biệt lớn nhất giữa cá RĐV và
cá rô tự nhiên về hình thái là các chỉ tiêu đo thể hiện hình dạng đầu, kích cỡ
miệng, tỉ lệ dài ruột/dài chuẩn; khác về sinh trưởng là mối quan hệ của hệ số
phương trình chiều dài-khối lượng; về sinh học sinh sản là kích thước trứng,
mối quan hệ giữa sức sinh sản và khối lượng. Sức sinh sản tương đối không khác
biệt thống kê giữa các dòng cá, đường kính trứng của cá khác biệt có ý nghĩa,
lớn nhất là cá rô Cà Mau và nhỏ nhất là cá RĐV. Những khác biệt trên chứng tỏ
cá RĐV là một “dòng” riêng biệt; (3) Trong
cùng điều kiện nuôi, cá RĐV tăng trưởng nhanh hơn cá rô tự nhiên và tốc độ tăng
trưởng nhanh thể hiện rõ từ giai đoạn cá giống trở đi: ở giai đoạn bột lên
giống, cá RĐV chỉ thể hiện ưu điểm tăng trưởng nhanh vào khoảng 45- 55 ngày
nhưng chúng có tỉ lệ sống thấp hơn có ý nghĩa so với cá tự nhiên; ở giai đoạn
nuôi thịt đến 6 tháng tuổi, cá RĐV có khối lượng cao nhất nhưng tốc độ tăng
trưởng (g/ngày) lại tương đương với cá rô Cà Mau; đến giai đoạn 6-10 tháng
tuổi, cá RĐV và cá rô Cà Mau tiếp tục tăng trưởng tốt, cá RĐV có tốc độ tăng
trưởng cao nhất. Tỉ lệ sống và hệ số thức ăn không có sự khác biệt giữa các
dòng cá.Tuy nhiên, cá RĐV dễ nhiễm bệnh hơn và tỉ lệ sống thấp hơn cá tự nhiên
ở giai đoạn từ cá bột lên giống. Trong các quần thể cá tự nhiên, cá rô có nguồn
gốc từ Cà Mau tăng trưởng nhanh nhất và tỉ lệ sống cao so với cá rô Đồng Tháp
và Hậu Giang.
Với những thành tựu trong nghiên cứu và
ứng dụng công nghệ sinh học, các chỉ thị sinh học phân tử đã được ứng dụng rộng
rãi trên thế giới thì đây là nghiên cứu đầu tiên kết hợp phương pháp nghiên cứu truyền thống (dựa trên hình thái) với
phương pháp hiện đại (dựa trên trình tự DNA) để định loại cá rổ đầu vuông và
xác định mối quan hệ di truyền của các rô có nguồn gốc phân bố khác nhau. Đồng
thời đề tài cũng đánh gía sự khác biệt giữa các dòng cá rô về một số tính trạng
quan trọng trong nghề nuôi, làm cơ sở cho các chương trình chọn giống cá rô.
Đây là tính mới và sáng tạo trong nghiên cứu khoa học của nhóm tác giả.
Đối
với các cơ quan quản lý nuôi trồng thủy sản và các Trung tâm giống, việc xác
định hệ thống phân loại của cá RĐV, kết quả đánh gía biểu hiện một số tính trạng quan trọng trong nghề nuôi
như tăng trưởng, sinh sản, khả năng kháng bệnh,…của cá RĐV so với cá rô đồng tự nhiên là những cơ sở khoa
học rất quan trọng và rất cần thiết cho công tác quản lý giống thủy sản và chương trình chọn giống cá rô ở các địa
phương. Vì thế đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tế lớn. Tác giả cũng đã đề xuất cần tiếp tục nghiên cứu chọn lọc và lai tạo
giữa các dòng cá rô nhằm cải thiện di truyền chất lượng con giống phục vụ cho
nhu cầu nuôi. Đồng thời, các cơ quan quản lý nuôi trồng thủy sản và các Trung
tâm giống thủy sản cần có biện pháp bảo tồn và lưu giữ riêng dòng cá RĐV và các rô tự nhiên, tránh hiện tượng
lai tạo tràn lan làm suy giảm nguồn lợi di truyền của cá rô và đảm bảo sự phong phú của nguồn gene cá rô đồng.
Nghiên cứu cũng mở ra khả năng ứng dụng
chỉ thị di truyền phân tử trong định danh, phân loại loài mà phương pháp truyền
thống xác định không rõ ràng đối với các loài thủy sản khác.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét