23/9/14

TỔ CHỨC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH 36/2014/NĐ-CP                                                                               ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ NUÔI CÁ TRA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH LONG
ThS. Huỳnh Trấn Quốc – TP.NTTS. CCTS
Cá Tra là một trong những đối tượng thủy sản nuôi xuất khẩu quan trọng của nước ta, năm 2013 là một năm đầy khó khăn đối với hoạt động nuôi và xuất khẩu cá Tra ở ĐBSCL nhưng sản lượng cá Tra vẫn đạt 1,15 triệu tấn với tổng diện tích nuôi là 5.200 ha và giá trị xuất khẩu đạt gần 1,8 triệu USD. Tuy nhiên, hiện nay ngành hàng này đang bộc lộ rất nhiều bất cập và hạn chế dẫn đến sự phát triển không ổn định như: (i) công tác quy hoạch và quản lý doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm cá tra chưa được thực hiện tốt, (ii) tình trạng chất lượng sản phẩm kém, không đồng nhất trong nuôi, chế biến, xuất khẩu trong khi rào cản kỹ thuật đặt ra bởi các nước nhập khẩu ngày càng nghiêm ngặt; (iii) tình trạng mất cân đối cung – cầu, cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp, quyền lợi của các đối tượng tham gia vào chuỗi sản xuất không được bảo đảm đặc biệt là người nuôi cá tra. Đứng trước những tồn tại đã lâu đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 36/2014/NĐ-CP ngày 29/4/2014 về nuôi, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá Tra nhằm tạo cơ chế để có thể kiểm soát sản xuất, giám sát tình hình xuất khẩu đồng thời phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành hàng liên quan trong quản lý sản xuất ngành hàng này.
1. Hướng dẫn thực hiện Nghị định 36/2014/NĐ-CP đối với các cơ sở nuôi cá Tra thương phẩm:
Theo điều 4 của Nghị định, để đủ điều kiện sản xuất cơ sở nuôi cá Tra thương phẩm phải nằm trong vùng qui hoạch; phải được cơ quan quản lý NTTS địa phương xác nhận việc đăng ký diện tích và sản lượng nuôi cá Tra thương phẩm, ngoài việc phải đảm bảo các quy định, quy chuẩn kỹ thuật về NTTS còn phải được cơ quan quản lý NTTS địa phương chứng nhận, cấp mã số nhận diện cơ sở nuôi cá Tra thương phẩm. Để thực hiện qui định trên, ngày 29/7/2014, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 23/2014/TT-BNNPTNT hướng dẫn thực hiện Nghị định số 36/2014/NĐ-CP của Chính phủ về nuôi, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá Tra có hiệu lực từ ngày 12/9/2014. Theo thông tư này, các cơ sở nuôi cá Tra thương phẩm phục vụ xuất khẩu phải thực hiện việc đăng ký cấp mã số nhận diện đến từng ao nuôi và đăng ký nuôi cá Tra thương phẩm với Cơ quan quản lý nuôi trồng thủy sản cấp tỉnh (Chi cục Thủy sản Vĩnh Long).
a) Nguyên tắc:  
- Cơ sở nuôi nằm trong quy hoạch được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt thì được cấp mã số nhận diện;
- Một cơ sở có nhiều ao nuôi thì được cấp nhiều mã số nhận diện ao nuôi, mỗi ao nuôi được cấp duy nhất một mã số nhận diện;
- Mã số nhận diện cơ sở nuôi và ao nuôi chỉ được cấp khi đăng ký lần đầu hoặc đăng ký lại;
- Việc thực hiện đăng ký mã số nhận diện lần đầu và đăng ký lại được thực hiện độc lập hoặc đồng thời với việc xác nhận đăng ký nuôi cá Tra thương phẩm;
- Đăng ký nuôi cá Tra thương phẩm bao gồm đăng ký diện tích và sản lượng nuôi.
b) Hồ sơ đăng ký cấp mã số nhận diện cơ sở nuôi và đăng ký nuôi cá Tra thương phẩm:
- Trường hợp đăng ký độc lập, hồ sơ gồm: Giấy đăng ký cấp mã số nhận diện cơ sở nuôi (theo Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này) và Sơ đồ mặt bằng vị trí ao nuôi do chủ cơ sở nuôi xây dựng hoặc 02 bản Giấy đăng ký nuôi cá Tra thương phẩm (theo Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này);
- Trường hợp đăng ký đồng thời, hồ sơ gồm: Giấy đăng ký cấp mã số nhận diện cơ sở nuôi (theo Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này) và Sơ đồ mặt bằng vị trí ao nuôi do chủ cơ sở nuôi xây dựng (trên khổ giấy A4, trường hợp một cơ sở có nhiều ao nuôi có thể vẽ trên khổ giấy A3); 02 bản Giấy đăng ký nuôi cá Tra thương phẩm (theo Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này).
c) Trình tự thực hiện:
- Chậm nhất trước thời điểm thả giống 20 ngày, chủ cơ sở nuôi có trách nhiệm đăng ký mã số nhận diện cơ sở nuôi (lần đầu hoặc đăng ký lại) và đăng ký nuôi cá Tra thương phẩm với Cơ quan quản lý nuôi trồng thủy sản cấp tỉnh;
- Chủ cơ sở nuôi nộp 01 bộ hồ sơ theo quy định (như trên) trực tiếp hoặc qua đường bưu điện về Cơ quan quản lý nuôi trồng thủy sản cấp tỉnh;
- Kể từ ngày nhận được hồ sơ, trong thời gian không quá 01 ngày làm việc đối với hồ sơ nộp trực tiếp và không quá 02 ngày làm việc đối với hồ sơ nộp qua đường bưu điện, Cơ quan quản lý nuôi trồng thủy sản cấp tỉnh hướng dẫn chủ cơ sở bổ sung những nội dung còn thiếu hoặc chưa đúng quy định;
- Trong thời gian không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Cơ quan quản lý nuôi trồng thủy sản cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận mã số nhận diện cơ sở nuôi cá Tra (theo Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư này) và xác nhận Giấy đăng ký nuôi cá Tra thương phẩm, lưu 01 bản và trả cho chủ cơ sở đăng ký 01 bản trực tiếp hoặc qua đường bưu điện. Trong trường hợp không cấp mã số nhận diện cơ sở nuôi hoặc không xác nhận việc đăng ký nuôi cá Tra thương phẩm, Cơ quan quản lý nuôi trồng thủy sản cấp tỉnh phải trả lời chủ cơ sở bằng văn bản, nêu rõ lý do và không trả lại hồ sơ.
2. Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định 36/2014/NĐ-CP đối với các cơ sở nuôi cá Tra thương phẩm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long:
Nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước ngành hàng cá tra cũng như phát triển bền vững nghề nuôi cá tra trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long và góp phần hoàn thành mục tiêu tái cơ cấu ngành thủy sản, Chi cục Thủy sản đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định 36/2014/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long gồm các nội dung sau:
a) Tuyên truyền, phổ biến Nghị định số 36/2014/NĐ-CP:
- Tổ chức hội nghị triển khai Nghị định số 36/2014/NĐ-CP và Thông tư số 23/TT-BNNPTNT ngày 29/7/2014 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 36/2014/NĐ-CP cho các đối tượng có liên quan như: cơ sở nuôi cá tra thâm canh, các cơ sở chế biến cá tra, cán bộ phòng Nông nghiệp & PTNT các huyện, cán bộ nông nghiệp các xã có nuôi cá tra, các ban ngành hữu quan và lồng ghép triển khai Nghị định trong các lớp tập huấn phổ biến văn bản pháp luật, tập huấn chuyên môn, chuyển giao kỹ thuật của đơn vị....
- Phát hành tài liệu tuyên truyền về Nghị định số 36/2014/NĐ-CP và cấp phát đến tất cả các cơ sở nuôi và chế biến sản phẩm cá tra trên địa bàn tỉnh.
- Tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị định và Thông tư hướng dẫn thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: viết bài đăng báo trong và ngoài tỉnh, trang Web của đơn vị, tổ chức tuyên truyền lưu động, thực hiện chuyên mục truyền hình….
b) Tổ chức triển khai đăng ký nuôi cá tra thương phẩm và cấp mã số ao nuôi:
- Cấp mã số nhận diện cơ sở nuôi: cán bộ phụ trách địa bàn (theo huyện) của Chi cục Thủy sản sẽ phối hợp với cán bộ nông nghiệp xã tiến hành liên hệ, khảo sát thực địa và hướng dẫn các cơ sở nuôi cá Tra đăng ký cấp mã số đến từng ao nuôi, đảm bảo 100% cơ sở nuôi cá Tra thâm canh được cấp mã số nhận diện trước tháng 11/2014.
- Xác nhận đăng ký diện tích, sản lượng cá tra nuôi: trong quá trình cấp mã số nhận diện cơ sở nuôi, cán bộ phụ trách của Chi cục Thủy sản cũng sẽ hướng dẫn người nuôi đăng ký diện tích, sản lượng cá Tra nuôi tại chỗ. Trường hợp các cơ sở nuôi chưa thả cá vào thời điểm tổ chức đăng ký, cán bộ chuyên trách của Chi cục sẽ tuyên truyền, vận động người nuôi tiếp tục liên hệ cơ quan chức năng để đăng ký diện tích, sản lượng trước khi thả cá giống theo đúng quy định.
- Tất cả số liệu thu thập sẽ được tổng hợp vào hệ thống cơ sở dữ liệu của đơn vị để quản lý.

Bên cạnh đó, để  triển khai đồng bộ, đảm bảo thực thi Nghị định, đơn vị sẽ tiến hành (i) Rà soát lại quy hoạch phát triển Thủy sản đến năm 2020 trọng tâm chi tiết nuôi và chế  biến cá Tra trên địa bàn tỉnh, tham mưu Sở trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt điều chỉnh; (ii) Tổ chức tập huấn kiến thức về nuôi cá Tra theo tiêu chuẩn VietGAP cho 100% các cơ sở nuôi cá Tra thâm canh trên địa bàn tỉnh; (iii) Đề xuất các dự án hỗ trợ các cơ sở nuôi cá Tra thâm canh trên địa bàn tỉnh thực hiện các chứng nhận nuôi thủy sản tiên tiến như VietGAP, ASC, GlobalG.A.P.,…(iv) Tăng cường công tác thanh kiểm tra việc chấp hành Nghị định số 36/2014/NĐ-CP của các cơ sở nuôi và chế biến cá Tra để nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý ngành hàng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét