24/2/14



QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG GIỐNG CÁ TRA – CẦN GIẢI PHÁP ĐỒNG BỘ
                                               ThS. Phạm Thị Thu HồngCCTS VĨNH LONG
        
         Từ sau tết Nguyên đán đến nay, giá cá tra nguyên liệu đang có dấu hiệu hồi phục, người nuôi sau thời gian dài “treo ao” nôn nóng thả lại dễ dẫn đến ‘cơn sốt” giống. Tình trạng khan hiếm giống cục bộ trong thời kỳ đầu vụ sản xuất đang đẩy giá giống gia tăng trong khi chất lượng giống lại có dấu hiệu ngày càng giảm. Đây là vấn đề người nuôi  nên đặc biệt quan tâm để tránh thiệt hại trong bối cảnh ngành hàng phát triển chưa ổn định và bền vũng như hiện nay.
Chất lượng giống khó kiểm soát
Chất lượng con giống nói chung và của cá tra nói riêng là một thành tố rất quan trong, có ý nghĩa rất lớn quyết định đến hiệu quả của nghề nuôi. Trước đây, những lúc nhu cầu cá giống tăng đột biến sẽ đẩy giá con giống lên cao, đã khiến cho người sản xuất giống chạy theo lợi nhuận, cho cá đẻ nhiều lần trong năm, sử dụng số lượng cá bố mẹ hạn chế, không bảo đảm yêu cầu chất luợng, thậm chí cùng một lứa trong cùng một trại để sản xuất giống dẫn đến hiện tượng cận huyết, chất lượng giống kém, sức đề kháng yếu. Hậu quả là tỉ lệ chết trong ương, nuôi khá cao so với trước đây: từ cá bột lên cá hương, tỷ lệ hao hụt tới trên 80-85% và từ cá hương lên cá giống, tỷ lệ hao hụt tới 40-50%. 
Hiện nay, hầu như tất cả các vùng nuôi cá tra đều đã xuất hiện những loại bệnh phổ biến như xuất huyết, trắng mang, trắng gan và nhất là bệnh gan, thận mủ - gây tổn thất rất lớn cho nghề nuôi. Có những vùng nuôi, tỷ lệ cá tra nhiễm bệnh gần như tới 100%. Nguyên nhân cá nhiễm bệnh thì có nhiều như do cá bị nhiễm khuẩn hoặc bị các loài ký sinh trùng giáp xác ký sinh và nấm gây hại; do chế độ dinh dưỡng cho cá không cân đối.. khi gặp chất lượng nước ao không tốt hoặc vùng nuôi bị ô nhiễm sẽ thuận lợi gây bệnh và lây lan thành dịch bệnh. Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất chính là chất lượng cá tra giống đã xuống cấp đến mức đáng báo động.  
Trong thời gian qua, vùng sản xuất cá tra bột tập trung chủ yếu ở tỉnh Đồng Tháp và An Giang, với hơn 100 trại và hơn 6000 hộ ương cá giống với tổng diện tích sản xuất khoảng 6.000 ha, cung ứng 80-90% cá tra giống cho toàn vùng ĐBSCL.Tuy nhiên, theo cơ quan quản lý thủy sản địa phương cho biết chỉ khoảng 40% cơ sở là có đăng ký kinh doanh theo đúng qui định và tổ chức sản xuất thường xuyên với diện tích lớn, sản lượng nhiều. Phần lớn các cơ sở còn lại sản xuất không ổn định, khi nào giá cá giống cao thì họ sản xuất, còn khi giá cá giống thấp, thì nghỉ. Những cơ sở này lại thường lấy cá bố mẹ từ đàn cá nuôi thương phẩm dẫn đến hiện tượng cận huyết, cá nuôi dễ mắc bệnh, chậm lớn, tỷ lệ hao hụt cao (từ 30-40%,) và cuối cùng cả cơ sở sản xuất giống này lẩn người nuôi thương phẩm đều càng lao đao thêm trong những lúc biến động xấu của nghề nuôi .
Nghề làm giống cá tra ở ĐBSCL mang lại lợi nhuận rất cao, trong thời gian qua đã phát triển tự phát và luôn biến động theo nhịp tăng giảm sản lượng nuôi thương phẩm trong vùng. Nhiều cơ sở, do chỉ chạy theo lợi nhuận trước mắt đã đưa vào sử dụng một số “công nghệ” nguy hiểm nhằm làm tăng sản lượng cá giống bằng mọi giá. Trong đó, việc lạm dụng thuốc kích dục tố trở nên khá phổ biến, với loại thuốc này, người ta có thể ép cá đẻ tới 5-6 lứa/năm! Vì cá phải đẻ quá nhiều, năm này qua năm khác, dẫn tới chất lượng cá tra giống ngày càng xuống thấp. Mặt khác, do hiện nay hầu hết cá tra giống đều có nguồn gốc từ sinh sản nhân tạo, nên giống đã nhanh chóng bị thoái hoá. Theo điều tra khảo sát của các nghiên cứu, trước đây, cá giống lấy từ môi trường tự nhiên, phải nuôi từ 2,5 đến 3 năm tuổi mới bắt đầu thành thục (sinh sản), còn bây giờ, cá chưa được 1 tuổi đã… thành thục rồi! Điều đáng nói là nhiều trại cá giống vẫn cho những con cá thành thục quá sớm này tham gia sinh sản, vì thế, chất lượng cá giống lại càng khó đảm bảo dẫn đến thiệt hại nhiều cho nghề nuôi. Chất lượng giống cá tra thấp ảnh hưởng lớn đến năng suất và thời vụ nuôi cá tra trong giai đoạn hiện nay. Trước đây, do chất lượng giống khá tốt, người nuôi cá tra chỉ cần 6 – 7 tháng là đã có cá đạt kích cỡ thương phẩm đáp ứng yêu cầu xuất khẩu (khoảng 1-1,2 kg/con). Còn bây giờ, chất lượng cá giống xuống thấp, tỉ lệ hao hụt cao và nếu muốn đạt được kích cỡ cá trên, người nuôi phải nuôi đến 8 – 10 tháng. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu làm tăng chi phí sản xuất cá tra trong thời gian qua.
Khi nghề nuôi phát triển, nhằm đáp ứng nhu cầu con giống rất lớn thì chủ trương “ Xã hội hóa” công tác giống - các hộ tư nhân tham gia cung cấp con giống -  là hoàn toàn hợp lý, tuy nhiên cũng kéo theo hệ lụy là tình trạng khó kiểm soát chất lượng giống. Hiên nay, hiệu quả công tác quản lý của cơ quan chức năng ở các địa phương ĐBSCL trong khâu sản xuất, lưu thông giống cá tra trong dân còn hạn chế, hành vi vô tư mang cá giống từ nơi này sang nơi khác mà không cần phải qua khâu kiểm định, kiểm dịch là khá phổ biến!
Các giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng giống
Để đạt mục tiêu 70% (đến năm 2015) và 100% (đến năm 2020) con giống sạch bệnh trong đề án Phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 332/QĐ-TTg ngày 03/3/2011) nhằm đưa ngành NTTS phát triển theo hướng công nghiệp, hiện đại, hiệu quả và bền vững, đặc biệt với đối tượng chủ lực như cá tra cần có những giải pháp mang tính vĩ mô và vi mô bảo đảm tính đồng bộ, tổng hợp và quyết liệt hơn của các đối tượng liên quan, trong đó nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Trong 3 năm từ 2010 - 2012, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn triển khai dự án thay đàn cá bố mẹ để phát triển 110.000 con cá tra hậu bị đã chọn lọc, kết quả cho sinh sản sẽ cung cấp khoảng 5 tỉ con giống đạt tiêu chuẩn quốc gia, đáp ứng đủ cho ngành nuôi cá tra ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Đến nay, Viện Nghiên cứu NTTS 2 đã hoàn tất chuyển giao cho các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Bến Tre… và các cơ sở tiếp nhận đàn cá này đang bắt đầu đưa vào khai thác cho sinh sản.
Tuy nhiên, hai năm qua ngành hàng cá tra gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ đã ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả thành phần trong chuỗi sản xuất và “mắc xích” sản xuất giống cũng không ngoại lệ, thậm chí trầm trọng hơn bởi nhu cầu giống giảm sút đáng kể, từ đó dẫn đến hiện tượng “phó mặc” các đàn cá bố mẹ. Và đương nhiên, chất lượng giống khó đảm bảo khi ngành hàng đang có dấu hiệu hồi phục bởi một thời gian dài cá bị “bỏ đói”!Thực trạng này dẫn đến hệ lụy là hiệu quả sản xuất rất thấp khi trong quá trình nuôi thương phẩm tỉ lệ sống thấp và chi phí sử dụng thuốc và hóa chất tăng cao. Nhằm khắc phục tình trạng phát triển tự phát sau thời gian “trầm lắng, các địa phương cần rà soát và điều chỉnh quy hoạch vùng sản xuất cá tra thương phẩm trong đó phải có quy hoạch vùng sản xuất cá tra giống, đồng thời thực hiện nghiêm túc quy chế quản lý đàn cá trên và qui định quản lý giống đã được Bộ NN&PTNT ban hành. Đây là hành lang pháp lý để các cơ quan chức năng thực hiện tăng cường quản lý chất lượng giống hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, những tác động bằng khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng đàn cá bố mẹ; khuyến cáo, hướng dẫn người sản xuất cá bột không cho cá bố mẹ đẻ nhiều lần…đều là những giải pháp hết sức cần thiết để khắc phục tình trạng báo động về chất lượng giống nêu trên.
Nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước trong công tác Quản lý giống, đặc biệt giống cá tra trong tình hình khan hiếm giống là cấp thiết nhằm đảm bảo quyền lợi cho người có nhu cầu sử dụng con giống đạt chất lượng để nuôi, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng, đồng thời góp phần phòng, ngăn chặn sự lây lan bệnh trong động vật thủy sản. Căn cứ theo các qui định hiện hành, tất cả các cơ sở SX-KD giống cá tra phải thực hiện các yêu cầu về  đảm bảo đủ điều kiện SX-KD về vệ sinh - thú y thủy sản; Nguồn giống bố mẹ được dùng để sinh sản nhân tạo phải có nguồn gốc rõ ràng, không mang mầm bệnh truyền nhiễm, đã được chứng nhận kiểm dịch và phải áp dụng các biện pháp phòng bệnh bắt buộc; Phải sử dụng đàn cá bố mẹ đảm bảo theo tiêu chuẩn ngành, có chứng nhận xuất xứ dòng thuần và mỗi cá thể sử dụng cho sinh sản không quá 2 lần/năm; Phải đảm bảo giống khi xuất ra khỏi cơ sở đạt chất lượng đã công bố và đạt chất lượng và được kiểm dịch từ cơ quan thú y.  
      Các cơ quan chuyên môn tổ chức tuyên truyền để nâng cao ý thức chấp hành các qui định pháp luật của nhà nước về lĩnh vực quản lý giống đến các đối tượng có liên quan và các cơ quan chức năng tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các cơ sở hành nghề thuỷ sản trên địa bàn mỗi tỉnh đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo qui định hiện hành là những biện pháp quản lý rất cần thiết để nâng cao chất lượng giống cá tra. Đồng thời, việc người nuôi yêu cầu các cơ sở sản xuất phải cung ứng giống đã công bố chất lượng và kiểm dịch là tự bảo vệ quyền lợi chính mình, ý thức này sẽ có tác dụng nâng cao nhận thức dẫn đến thay đổi hành vi của người sản xuất giống cần có trách nhiệm hơn đối với người nuôi, với cộng đồng từ đó tác động tích cực đến hiệu lực quản lý, góp phần thúc đẩy nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL ngày càng phát triển hiệu quả và  bền vững.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét